vanban.org

Bản án 36/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 28/11/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một ) năm 03 (ba ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 29/8/2024) Vật chứng: Căn cứ: Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - không phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 36/2024/HSST
Ngày 28/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Thanh Hương

2. Ông Lò Văn Hoan

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ.

- Đại diện VKSND Thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 28/11/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/HSST ngày 15/11/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXX-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T. Bị cáo không có tên gọi khác: Sinh năm 1991. Tại tỉnh Đ. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đi. Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Con ông: Lò Văn K (đã chết) con bà: Quàng Thị P (đã chết); anh chị em ruột: Không. Bị cáo chưa có vợ, con;Tiền án: Không

Tiền sự: 01: Ngày 19/7/2022 bị TAND huyện Đ, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng, ngày 19/4/2024 chấp hành xong.

Nhân thân: Ngày 12/8/2016 bị TAND huyện Đ, tỉnh Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, ngày 14/7/2018 chấp hành xong đã hết thời hiệu và được coi nhưa chưa bị xử lý hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam trong vụ án này ngày 29/8/2024, bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 29/8/2024, T đi xe đạp đến bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên gặp và hỏi mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine có khối lượng 0,18 gam với giá 50.000đ gói bên ngoài bằng 02 mảnh nilon màu hồng, với mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy T cất vào túi quần phía trước bên phải rồi đi về. Hồi 09 giờ 05 phút cùng ngày khi Thành đi xe đạp đến tổ 7, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an phường T phối hợp với công an phường N, thành phố Đ, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng cùng 01 chiếc xe đạp màu trắng hiệu Asean.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 29/8/2024 đã xác định: Các cục bột thể rắn màu trắng đục nghi Heroine thu giữ khi bắt quả tang của Lò Văn T có khối lượng là 0,18 gam (ký hiệu M) gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1416/KL-KTHS ngày 05/9/2024 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng ký hiệu M có khối lượng 0,18 gam cục chất bột thể rắn màu trắng đục thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,09gam.

Tại bản cáo trạng số 208/CT-VKSTPĐBP ngày 15/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS.

Xử phạt bị cáo từ 14 tháng đến 17 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND thành phố Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hồi 09 giờ 05 phút ngày 29/8/2024 tại khu tổ 7, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,18 gam Heroine trên người mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy có được là do mua của một người đàn ông không biết tại bản X, xã T, huyện Đ với giá 50.000đ sau khi mua ma túy được T đem về chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi tàng trữ 0,18 gam heroine trên người mục đích để sử dụng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.

C¸o tr¹ng cña VKSND thành phố Đ ®· truy tè bÞ c¸o lµ ®óng ng êi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt. BÞ c¸o cã ®Çy đủ n¨ng lùc ®Ó chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù tr íc ph¸p luËt vÒ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh ®· g©y ra.

. XÐt tÝnh chÊt møc ®é ph¹m téi cña bÞ c¸o th× hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma túy lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng lµm ¶nh h ëng ®Õn trËt tù trÞ an, an toàn x· héi. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ chÊt ma tuý. BÞ c¸o nhËn thøc ® îc t¸c h¹i cña ma tuý, nhËn thøc ® îc hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý lµ vi ph¹m ph¸p luËt. Song vì nhu cầu của bản thân bÞ c¸o ®· bÊt chÊp vµ cè t×nh vi ph¹m. Nªn cÇn ph¶i xö lý bị cáo nghiêm minh theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lò Văn T HĐXX thấy rằng: Ngày 19/7/2022 bị TAND huyện Đ, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng, ngày 19/4/2024 chấp hành xong. Ngày 12/8/2016 bị TAND huyện Đ, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, ngày 14/7/2018 chấp hành xong đã hết thời hiệu và được coi như chưa bị xử lý hành chính.Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bố mẹ mất sớm bị cáo sinh sống cùng bà ngoại Quàng Thị X bà được Nhà nước tặng Huy chương khánh chiến hạng nhất cho nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo tiếp tục cai nghiện cải sửa lỗi lầm trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của VKS là phù hợp HĐXX chấp nhận.

. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. XÐt kinh tÕ bÞ c¸o khã kh¨n, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nªn kh«ng cã ®iÒu kiÖn ®Ó thi hµnh. Héi ®ång xÐt xö kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o.

Đối với người đàn ông bị cáo đã gặp tại bản X, xã T, huyện Đ đã bán ma túy cho bị cáo, do không đủ căn cứ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.

. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.

. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng.

Tịch thu tiêu huỷ H: 0,09 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu hồng.

Đối với chiếc xe đạp mini dán tem decan hiệu Asean, màu sơn trắng bạc giở xe bị rách bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu bán hóa giá xung quỹ Nhà Nước

.Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000đ án phí HSST

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/ BLHS; Điều 331, Điều 333/BLTTHS;

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một ) năm 03 (ba ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 29/8/2024)

3. Vật chứng: Căn cứ: Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Tịch thu tiêu huỷ H:0,09 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 02 mảnh nilon màu hồng.

Tịch thu bán hóa giá xung quỹ Nhà Nước 01 chiếc xe đạp mini dán tem decan hiệu Asean, màu sơn trắng bạc giỏ xe bị rách xe cũ đã qua sử dụng.

(Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ vào ngày 18/11/2024 đặc điểm vật chứng mô tả theo biên bản giao nhận).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/11/2024).

Cỡ chữ