- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 18 (mười tám) tháng tù về tội
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 36/2024/HS-ST Ngày: 01/03/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Chung. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Hải; Ông Bùi Văn Khương. - Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Tình - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Linh - Kiểm sát viên. Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo: Nguyễn Văn Th, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1986 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 2, xã H, huyện Th, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ng (đã chết) và bà Bùi Thị D; có vợ là Đặng Kim A (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 30-10-2023 đến ngày 01-11-2023 chuyển tạm giam - Có mặt. - Người chứng kiến: Ông Trương Đức Tr - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 30-10-2023, lực lượng Công an quận Hồng Bàng làm nhiệm vụ tại khu vực trước số 1/11/3 Tổ dân phố An Trì, phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng phát hiện Nguyễn Văn Th đang điều khiển xe mô tô mang Biển kiểm soát 29X8-2157 có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay phải của Th có 01 gói giấy
màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi ma túy nên đã đưa Th cùng tang vật về trụ sở Công an phường Hùng Vương lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ của Th: 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi ma túy; 01 xe mô tô Biển kiểm soát 29X8-2157. Tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Văn Th dương tính với chất ma túy Morphine/Heroine. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Th tại thôn 2, xã H, huyện Th, thành phố Hải Phòng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan. Tại Bản Kết luận giám định số 865/KL-KTHS ngày 01-11-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Chất bột màu trắng của mẫu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,21 gam là loại Heroine”. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Th khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định chất ma túy, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Về tài sản, vật chứng thu giữ: Lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong đựng trong phong bì thư và toàn bộ vỏ bao bì còn lại có dấu niêm phong số 865MT/PC09 chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng. Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 30-01-2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, Nguyễn Văn Th nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định chất ma túy và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng. Bị cáo Nguyễn Văn Th thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn Th từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30-10-2023. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong đựng trong phong bì thư dán kín và toàn bộ vỏ bao bì còn lại có dấu niêm phong số 865MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Đối với 01 chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 29X8-2157, quá trình điều tra xác định được đây là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1976, trú tại
thôn 2, xã H, huyện Th (là chị gái của Th). Ngày 30-10-2023, Th lấy xe đi mua ma túy không nói cho chị Vân biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe trên cho chị V quản lý, sử dụng. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn Th không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Th, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: - Về tố tụng: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về sự vắng mặt của người chứng kiến: Tại phiên tòa, người chứng kiến là ông Trương Đức Tr vắng mặt không có lý do. Xét thấy, người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; tại phiên tòa, bị cáo, Kiểm sát viên đều đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người chứng kiến do trước đó người chứng kiến đã có lời khai tại cơ quan điều tra; việc vắng mặt của người chứng kiến không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đối với người chứng kiến. - Về nhận định các tình tiết của vụ án: [3] Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được, lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 30-10-2023, lực lượng Công an quận Hồng Bàng làm nhiệm vụ tại
khu vực trước số 1/11/3 Tổ dân phố An Trì, phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng phát hiện Nguyễn Văn Th đang điều khiển xe mô tô mang Biển kiểm soát 29X8-2157 có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay phải của Th có 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi ma túy nên đã đưa Th cùng tang vật về trụ sở Công an phường Hùng Vương lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ của Th: 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi ma túy; 01 xe mô tô Biển kiểm soát 29X8-2157. Tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Văn Th dương tính với chất ma túy Morphine/Heroine. Quá trình làm việc Th khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 30-10-2023, Th một mình điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 29X8-2157 đến khu vực cống Cái Tắt, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng mua của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng (Một trăm ngìn đồng). Sau đó, Th cầm số ma tuý vừa mua được ở lòng bàn tay phải và điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng thì bị cơ quan công an phát hiện kiểm tra thu giữ ma túy như nội dung trên. Mục đích Th cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại Bản Kết luận giám định số 865/TB- KTHS ngày 01-11-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Chất bột màu trắng của mẫu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,21 gam là loại Heroine”. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn Th đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. [4] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,21 gam ma túy, loại Heroin, nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [5] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm Luật Phòng, chống ma túy ngày 30-3-2021, mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội. Đây là tệ nạn xã hội gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân nên phải xem xét, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Do đó, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. [7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. - Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Trên cơ sở xem xét khối lượng ma túy; đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mục đích của hình phạt, nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội. Xét thấy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thích hợp mới đảm bảo quy định của pháp luật nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, căn cứ nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự cần khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội. Do vậy, áp dụng hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở. [9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có căn cứ xác định bị cáo có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở. [10] Về xử lý tài sản, vật chứng: [10.1] Đối với chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 29X8-2157 mà bị cáo sử dụng, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị V (là chị gái của bị cáo). Việc Nguyễn Văn Th sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy, chị V không biết nên Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe trên cho chị V theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét. [10.2] Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong đựng trong phong bì thư và toàn bộ vỏ bao bì còn lại có dấu niêm phong số 865MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng do liên quan đến hành vi phạm tội. [11] Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Nguyễn Văn Th hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ. [12] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30-10-2023. - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 (một) phong bì thư dán kín có dấu niêm phong số 865MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 30-01-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng). - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV 06 Công an TP. Hải Phòng; - CA quận Hồng Bàng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng; - VKSND quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Bị cáo; Nguyễn Hữu Chung - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |