vanban.org

Bản án 36/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 19/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/02/2024, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2020 đến ngày 04/8/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày: 19-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Phạm Thanh Lam

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 132/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 143/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2020/HSST-QĐ ngày 30 tháng 12 năm 2020, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 538/2021/TB-TA ngày 01 tháng 11 năm 2021, Thông báo thay đổi lịch xét xử số 591/TB-TA ngày 29 tháng 11 năm 2021, Quyết định tạm đình chỉ số 01/2021/HSST-QĐ ngày 21 tháng 12 năm 2021, Quyết định phục hồi vụ án số 01/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 02 năm 2024 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số số 02/TB-TA ngày 26 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N – sinh năm 1988, tại Hậu Giang

Nơi cư trú: Ấp LT, xã HM, huyện PH, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H – sinh năm 1949 và bà Lê Thị D – sinh năm 1951; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2020 đến ngày 04/8/2020 và bị bắt truy nã, tạm giam từ ngày 05/02/2024. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 05 phút ngày 26/7/2020, tại phòng trọ của Nguyễn Thị H (thuộc ấp PD, xã PB, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai), Công an xã PB phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các đối tượng Đậu Văn Đ, Mai Tiến Q, Phan Văn S, Ngô Hoài N2, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H đang có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài cào tố.

Tang vật thu giữ gồm: Số tiền 4.660.000 đồng thu tại chiếu bạc, số tiền 50.000 đồng thu trong hộp giấy đựng tiền xâu, 04 bộ bài tây đã qua sử dụng, 25 bộ bài tây chưa qua sử dụng; số tiền 300.000 đồng thu trong túi áo của Phan Văn S. Ngoài ra, Công an xã PB còn thu giữ một số tài sản gồm tiền, điện thoại di động và xe mô tô các loại của các đối tượng tham gia đánh bạc.

Quá trình điều tra đã xác định được:

Khoảng 18 giờ ngày 26/7/2020, Nguyễn Văn N, Đậu Văn Đ, Ngô Hoài N2 đến phòng trọ của Nguyễn Thị H thuê và rủ nhau chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài cào tố, quy định mỗi ván đặt 10.000 đồng, tố tối đa 100.000 đồng. Sau đó có Mai Tiến Q, Phan Văn S cùng đến phòng trọ của H và tham gia đánh bạc, cả nhóm thỏa thuận mỗi ván đặt 20.000 đồng, tố tối đa 200.000 đồng, ai thắng được trên 100.000 đồng thì bỏ 10.000 đồng vào một hộp giấy để trả tiền xâu cho H. Đến 21 giờ cùng ngày, H đi làm về thấy cả nhóm đang chơi đánh bạc nên ngồi vào xem, quá trình chơi đánh bạc H cho Quốc mượn 200.000 đồng để đánh bạc. Hình thức đánh bạc như sau: Người chơi sử dụng bộ bài tây 52 lá chia cho mỗi tụ 03 lá bài, người chơi sẽ cộng tổng điểm 03 lá bài để so sánh với những người chơi khác, nếu ai lớn điểm nhất thì thắng được tất cả số tiền đặt cược ban đầu, bằng nhau thì hòa, ít điểm hơn thì thua. Sau khi bốc bài, người chơi có thể tố thêm số tiền đặt ra lúc ban đầu, ai theo thì mở bài ra so điểm còn nếu không theo nghĩa là thua. Cách thức tính điểm như sau: các lá A (là 01 điểm), 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 tương ứng với các số trên lá đó, các lá J, Q, K là 10 điểm. Trường hợp 03 lá bài giống nhau gọi là ba cào (lớn nhất) hoặc 03 lá bài có sự xuất hiện của một trong ba con J, Q, K bất kì gọi là ba tiên (lớn thứ hai); 03 lá bài tạo thành một sảnh liền nhau (lớn thứ 3). Điểm của người chơi trong mỗi ván là tổng điểm 03 lá bài tương ứng với số điểm ở hàng đơn vị.

Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi cả nhóm đang đánh bạc trái phép được thua bằng tiền thì bị Công an xã PB, huyện Tân Phú bắt quả tang cùng tang vật.

Qua điều tra người tham gia đánh bạc khai nhận về số tiền dùng vào việc đánh bạc như sau:

- Phan Văn S mang theo số tiền 450.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt quả tang thu giữ của Sơn số tiền 300.000 đồng.

- Nguyễn Văn N mang theo số tiền 600.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt quả tang N bỏ hết tiền xuống chiếu bạc.

- Mai Tiến Q mang theo số tiền 400.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc, quá trình chơi đánh bạc Quốc thua hết tiền và mượn của H 200.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, Quốc bỏ hết tiền xuống chiếu bạc.

- Đậu Văn Đ mang theo 400.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt quả tang Đức bỏ hết tiền xuống chiếu bạc.

- Ngô Hoài N2 mang theo 700.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt quả tang Nhân bỏ hết tiền xuống chiếu bạc.

Tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 4.660.000 đồng thu tại chiếu bạc và 50.000 đồng thu trong hộp giấy đựng tiền xâu, 300.000 đồng thu trong túi áo của Phan Văn S, tổng cộng là 5.010.000 đồng.

Theo Cáo trạng số 121/CT-VKSTP-ĐN ngày 16/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố các bị cáo Đậu Văn Đ, Mai Tiến Q, Phan Văn S, Ngô Hoài N2, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Nguyễn Văn N bỏ trốn và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú ra Quyết định truy nã, đến ngày 05/02/2024 thì bị bắt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú thực hiện quyền công tố đã luận tội, tranh luận, phân tích dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo về tội “Đánh bạc” với mức án từ 06 (Sáu) đến 08 (Tám) tháng tù. Về biện pháp tư pháp: Vật chứng của vụ án đã được xử lý xong theo Bản án số 144/2021/HSST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc và đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi là vi phạm pháp luật, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào lúc 22 giờ 05 phút ngày 26/7/2020 tại phòng trọ của Nguyễn Thị H (thuộc ấp PD, xã PB, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai), khi Đậu Văn Đ, Mai Tiến Q, Phan Văn S, Ngô Hoài N2, Nguyễn Văn N đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài cào tố với tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 5.010.000 đồng thì bị Công an xã PB phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Đối với Đậu Văn Đ, Mai Tiến Q, Phan Văn S, Ngô Hoài N2, Nguyễn Văn N có hành vi đánh bạc với hình thức thuộc trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau; đối với hành vi của Nguyễn Thị H sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để cho người khác đánh bạc (H thuê phòng trọ và đã tạo điều kiện cho các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc tại phòng của mình đã thuê, nhằm hưởng lợi từ việc phục vụ với số tiền bán nước, tiền xâu) nhưng chưa đến mức chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội đánh bạc; tổng số tiền các bị cáo đánh bạc là tổng số tiền của những người cùng đánh bạc theo hướng dẫn tại khoản 3, điểm a khoản 4 Điều 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Hành vi của Nguyễn Văn N là hành vi đã phạm tội “Đánh bạc” tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra còn xem xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ quyết định hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, tệ nạn cờ bạc diễn ra ngày càng phức tạp và là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, đã thực hiện hành vi đánh bạc bất hợp pháp.

Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc trước nhưng thống nhất ý chí cùng thực hiện hành vi phạm tội, với lỗi cố ý. Đối với Đ, Q, S, N2 và bị cáo N tham gia với vai trò là người thực hành, H là người giúp sức. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội và vai trò của đồng phạm, số tiền đánh bạc nhằm cá thể hóa hình phạt khi lượng hình đối với bị cáo.

Đối với hành vi phạm tội của Đ, Q, S, N2và H đã được xử lý theo Bản án số 144/2021/HSST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú; cụ thể Ngô Hoài N2 bị xử phạt 25.000.000 đồng, Đậu Văn Đ bị xử phạt 20.000.000 đồng, Mai Tiến Q bị xử phạt 20.000.000 đồng, Phan Văn S bị xử phạt 20.000.000 đồng, Nguyễn Thị H bị xử phạt 25.000.000 đồng.

Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng với số tiền không lớn, số tiền đánh bạc của bị cáo tham gia tương đối gần bằng nhau so với những người cùng phạm tội đánh bạc, với vai trò là người thực hành.

Tuy nhiên, trong thời gian đưa vụ án ra xét xử thì bị cáo N lại bỏ trốn khỏi địa phương và đã bị bắt tạm giam theo biên bản bắt người đang bị truy nã ngày 05/02/2024, thể hiện bị cáo có thái độ xem thường pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, xét thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, đồng thời có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được xử lý xong theo Bản án số 144/2021/HSST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 321; Điều 38, khoản 1 Điều 46, Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;

- Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/02/2024, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2020 đến ngày 04/8/2020.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ