vanban.org

Bản án 36/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 13/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phàng A G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phàng A G 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 17/5/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHÙNG A G - TÀNG TRỮ MA TUÝ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phàng A G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG LÁT
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày 13/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Mấy và bà Ngô Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Ông Lâu Văn Chứ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Lâu Văn Ly và ông Hà Văn Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 13/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 23/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 31/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phàng A G, sinh năm 1974 tại xã K, huyện P, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản O, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phàng A S (Đã chết) và bà: Sùng Thị D (Đã chết); bị cáo có vợ là Giàng Thị B, sinh năm 1977 (Đã ly hôn), chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 23/5/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn Khôi – Trợ giúp viên pháp lý, chi nhánh số 1, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và luận cứ bào chữa gửi Hội đồng xét xử.

- Người chứng kiến: Anh Tráng A S, sinh năm: 1984

Địa chỉ: Bản S, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/5/2024, tổ công tác của Đồn biên phòng Tam Chung - Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa phối hợp Công an xã Tam Chung, huyện Mường Lát hành tuần tra khu vực từ bản Ón, xã Tam Chung đến cột mốc 270 (Biên giới Việt Nam – Lào), đến khoảng 15 giờ 50 phút, khi đến chòi rẫy nhà ông Giàng A K ở bản O, xã T, huyện Mt tổ công tác phát hiện một người đàn ông đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, qua kiểm tra người đàn ông không có giấy tờ tùy thân và tự khai tên là Phàng A G, quá trình kiểm tra phát hiện trên túi áo ngực của Phàng A G có 01 túi nilon màu trắng, bên trong bọc tiếp một lớp nilon màu hồng chứa các cục bột màu trắng và 05 (Năm) viên nén, màu hồng. Phàng A G khai nhận đó là ma túy, gồm Hồng phiến (ma túy tổng hợp) và Heroine mà G mua của một người đàn bà nói tiếng Mông, khoảng 40 tuổi ở nước CHDCND Lào vào sáng ngày 17/5/2024 với tổng số tiền 250.000đ, trong đó 200.000đ mua Heroine và 50.000đ mua Hồng phiến, mục đích để sử dụng.

Quá trình điều tra, Phàng A G khai nhận: Khoảng 8 giờ ngày 17/5/2024, Phàng A G đi bộ từ nhà mình đến bản Pưng, Cụm bản Huối Hiềng, huyện Sốp Bâu, tỉnh Hủa Phăn (Nước CHDCND Lào) với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi qua Cột mốc 270 khoảng 200m thì gặp một người phụ nữ, người dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi đang chăn bò, nói chuyện một lúc G hỏi người phụ nữ này có ma túy thì bán cho một ít, người phụ nữ này nói là có nên G đã lấy ra 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) đưa cho người phụ nữ này và nói 200.000đ thì mua Heroine còn 50.000đ mua Hồng phiến. Người phụ nữ nhận tiền và lấy trong người ra đưa cho G một gói nilon màu hồng và nói bên trong có ma túy. G nhận gói nilon và mở ra xem thì thấy có một cục màu trắng và 05 viên màu hồng, G đã lấy gói thuốc lào màu trắng bọc thêm một lớp bên ngoài túi nilon màu hồng rồi cất giấu mang về, trên đường đi về thi gặp tổ công tác kiểm tra, bắt giữ.

Bản kết luận giám định số: 1934/KL-KTHS ngày 18/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- Các cục dạng nén màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,888g (Không phẩy tám tám tám gam), loại: Heroine;

- 05 (Năm) viên dạng nén màu hồng đều có ký hiệu “WY” của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,564g (Không phẩy sáu bốn gam) loại “Methamphetamine”

- Vật chứng tổ công tác thu giữ: Toàn bộ số ma túy Phàng A G tàng trữ sau khi giám định đã được niêm phong vào một phong bì công văn do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Lát theo quy định pháp luật.

- Đối với người đàn bà đã bán ma túy cho Phàng A G vào ngày 17/5/2024 tại cột mốc 270, thuộc khu vực bản O, xã T, huyện M. Quá trình điều tra Phàng A G khai nhận không biết người phụ nữ này là ai, làm gì và ở đâu. Việc mua bán ma túy diễn ra ở trong rừng thuộc địa bàn nước CHDCND Lào và không có người chứng kiến nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra.

Tại bản Cáo trạng số: 43/CT-VKS-ML ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo Phàng A G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phàng A G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo từ 24 đến 28 tháng tù; đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật là ma tuý còn lại sau giám định.

Trong luận cứ bào chữa gửi Hội đồng xét xử, người bào chữa trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo: Đồng tình với quan truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát về tội danh, điều luật và khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình là hộ nghèo; trình độ văn hóa thấp kém nên nhận thức pháp luật rất hạn chế, bị cáo phạm tội chỉ vì mục đích nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân, việc bị cáo nghiện và sử dụng ma tuý trái phép cũng là hệ luỵ từ nhiều năm trước để lại nhất là ở địa phương có đặc thù Biên giới giáp nước CHDCND Lào, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo thành khẩn nhận tội và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên, trong lời nói sau cùng, bị cáo tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải và mong muốn Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Lát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 10 giờ 50 phút, ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại khu vực bản Ón, xã Tam Chung, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Tổ công tác gồm cán bộ Đồn Biên phòng Tam Chung - Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hoá và Công an xã Tam Chung, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Phàng A G có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Phàng A G khai nhận số ma túy này Gia mua của một người phụ nữ dân tộc Mông ở nước CHDCND Lào vào khoảng 8 giờ 00 phút ngày 17/5/2024 với số tiền là 250.000đ mang về để sử dụng dần.

Tại Bản kết luận giám định số:1934/KL-KTHS, ngày 18/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- Các cục dạng nén màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,888g (Không phẩy tám tám tám gam), loại: Heroine;

- 05 (Năm) viên dạng nén màu hồng đều có ký hiệu “WY” của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,564g (Không phẩy sáu bốn gam) loại “Methamphetamine”.

Hành vi của vi của Phàng A G tàng trữ trái phép 02 chất ma túy gồm Heroine và Methamphetamine với tổng khối lượng 1,452g, trên 0,1gam và dưới 05gam đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án:

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thức được các hành vi liên quan đến ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm do những tác hại xấu đến đời sống kinh tế, xã hội cũng như sức khỏe con người, ma túy còn là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được duy trì; để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo, sửa chữa lỗi lầm.

. Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiện đang sinh sống ở vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, là lao động tự do thu nhập không ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên nếu áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo thì không bảo đảm khả năng thi hành án do đó miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

. Xét về vật chứng trong vụ án:

Vật chứng của vụ án là 01 (một) phong bì đựng mẫu vật là ma tuý còn lại sau giám định đã được niêm phong trong phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

. Xét về án phí:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiện đang sinh sống ở vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Phàng A G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Phàng A G 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 17/5/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy số ma tuý của vụ án còn lại sau giám định đã được niêm phong vào một phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóá phát hành sau giám định, mặt trước ghi vụ Phàng A G, mặt sau được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Nguyễn Văn Tâm và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá.

Vật chứng, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/7/2024 giữa Công an huyện Mường Lát và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ