vanban.org

Bản án 36/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An Tuyên án 04/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Diệp Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Diệp Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 25/10/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Diệp Văn T "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Diệp Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
UYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày: 05-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Cao;

Ông Nguyễn Ngọc Ẩn.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Phước Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02 và ngày 05 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Diệp Văn T, sinh năm: 1970 tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Diệp Văn H, sinh năm: 1952 và bà Lê Thị Bạch T1, sinh năm: 1951; có vợ: Lý Thị C, sinh năm: 1972; con: 03 người, lớn nhất sinh năm: 1994, nhỏ nhất sinh năm: 2005.

Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thanh T2, sinh năm: 1979.

Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An.

2. Trương Thành T3, sinh năm: 1965.

Địa chỉ: D Ấp D, xã Q, huyện B, TP ..

3. Nguyễn Công T4, sinh năm: 1974.

Địa chỉ: 6 H, Khu phố D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

4. Phùng Duy V, sinh năm: 1976.

Địa chỉ: 3 C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

5. Nguyễn Thị T5, sinh năm: 1970.

Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện B, tỉnh Long An.

6. Nguyễn Thị B, sinh năm: 1967.

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An.

7. Trang Sỹ T6, sinh năm: 1994.

Địa chỉ: B Ấp A, xã T, huyện B, TP ..

8. Thạch Thị K, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

9. Dương Thị Thanh T7, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

10. Dương Thái Q, sinh năm: 1985.

Địa chỉ: Â, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

11. Nguyễn Thị Ngọc V1, sinh năm: 1985.

Địa chỉ: D Ấp D, xã Đ, huyện B, TP ..

12. Trần Thị Thanh L, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: B, Tổ A, xã Đ, huyện B, TP ..

13. Trịnh Ngọc L1, sinh năm: 1988.

Địa chỉ: ấp V, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

14. Chu Đức T8, sinh năm: 1990.

Địa chỉ: 1 H, Phường A, Quận A, TP ..

15. Huỳnh Kim H1, sinh năm: 1976.

Địa chỉ: Số C C, Phường A, Quận C, TP ..

16. Nguyễn Thị Bích H2, sinh năm: 1990.

Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

17. Đặng Trí T9, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Số F N, Phường N, Quận A, TP ..

18. Đặng Thị Cẩm N, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

19. Hà Văn T10, sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Xóm F, thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

20. Nguyễn Thị C1, sinh năm: 1967.

Địa chỉ: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.

(Tất cả người làm chứng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/10/2021, D (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mượn quán giải khát tên “122” của Nguyễn Thanh T2 tại Ấp A, xã P, huyện B để tổ chức đánh bài, hình thức tài xỉu được thua bằng tiền, D sẽ cho T2 tiền tiêu xài, thì T2 đồng ý. Khoảng 12 giờ ngày 24/102/2021, T2 đi phụ vợ là Quảng Thị H3 buôn bán nước giải khát tại chợ G, xã P, huyện B. Lúc này, D cùng các đối tượng đến khu vực chuồng nuôi gà phía sau quán “122” để tổ chức đánh bạc. D chuẩn bị 01 bộ lắc xí ngầu gồm: 03 hột xí ngầu, mỗi hột có 06 mặt đánh dấu bằng chấm tròn từ 01 chấm đến 06 chấm (tương ứng từ 01 đến 06 điểm), 01 chén sứ, 01 nắp nhựa. Hình thức chơi và người làm cái sử dụng 03 hột xí ngầu để trên dĩa sứ dùng nắp nhựa úp 03 hột xí ngầu lại, người làm cái lắc xong thì người chơi đặt tiền vào ô “T11” hoặc ô “Xỉu” trên mảnh giấy, người chơi đặt cược từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Nếu tổng số chấm trên 03 hột xí ngầu từ 11 điểm trở lên là “Tài”, người đặt “T11” thắng, người đặt “Xỉu” thua, người chơi thắng thua trực tiếp với người làm cái. Nếu tổng số nút trên 03 hột xí ngầu từ 10 điểm trở xuống là “Xỉu”, người đặt “Xỉu” thắng, người đặt “Tài” thua. Ngoài ra, nếu người làm cái lắc được 03 điểm trên hột xí ngầu giống nhau thì gọi là “bão” nếu tổng điểm trên 03 hột xí ngầu là “3” hoặc “6” hoặc “9” là “bão Xỉu”, người đặt “Xỉu” thì hòa với người làm cái, người đặt “Tài” thua, nếu số điểm trên 03 hột xí ngầu là “12” hoặc “15” hoặc “18” là “bão T11”, người đặt “Tài” thì hòa với người làm cái, người đặt “Xỉu” thua. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, do người tên X (chưa rõ lai lịch) làm cái lắc tài xỉu được thắng thua bằng tiền cho các người chơi đánh bạc gồm: Trương Thành T3 mang theo số tiền 6.100.000 đồng và sử dụng số tiền 6.100.000 đồng để tham gia đánh bạc, T3 thua hết 400.000 đồng, còn lại là 5.500.000 đồng; Nguyễn Công T4 đem theo số tiền 5.000.000 đồng để sử dụng đánh bạc, T4 thua hết 500.000 đồng, còn 4.500.000 đồng; Phùng Huy V2 sử dụng 5.200.000 đồng tham gia đánh bạc, thua hết 1.000.000 đồng, còn 4.200.000 đồng; Nguyễn Thị T5 sử dụng 350.000 đồng để tham gia đánh bạc, kết quả thua 200.000 đồng, còn lại 150.000 đồng; Diệp Văn T sử dụng 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, thua 200.000 đồng, còn lại 1.800.000 đồng; Nguyễn Thị B sử dụng 800.000 đồng để tham gia đánh bạc, thua hết 700.000 đồng, còn 100.000 đồng; Trang Sỹ T6 sử dụng 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, kết quả thua 300.000 đồng, còn lại 1.700.000 đồng; Thạch Thị K sử dụng 1.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, kết quả thua 700.000 đồng, còn lại 300.000 đồng; Dương Thị Thanh T7 sử dụng 2.200.000 đồng để tham gia đánh bạc, kết quả thua 300.000 đồng, còn lại 1.800.000 đồng và một số đối tượng khác (chưa rõ lai lịch). Các đối tượng tham gia đánh bạc liên tục đến khoảng 23 giờ thì Công an xã P kiểm tra, phát hiện và lập biên bản tạm giữ: tiền trên chiếu bạc là 5.500.000 đồng; tiền không xác định chủ sở hữu trong khu vực đánh bạc là 53.100.000 đồng; 03 hột xí ngầu; 01 mảnh giấy có ghi chữ T11 - Xỉu; 01 chén bằng sứ; 01 hộp bằng nhựa; 13 điện thoại di động các loại, trong đó có 01 Điện thoại di động Nokia màu trắng của Diệp Văn T; 22 xe mô tô các loại, trong đó có 01 xe mô tô Biển số 52T1-3709 của Diệp Văn T và 216.200.000 đồng tiền trên người các đối tượng tham gia đánh bạc (trong đó 16.650.000 đồng tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc gồm: Thành Trung 5.500.00 đồng, T4 4.500.000 đồng, T5 150.000 đồng; Diệp Văn T 1.800.000 đồng; Bảy 100.000 đồng, Sỹ T6 1.700.000 đồng, K 300.000 đồng, T7 1.800.000 đồng; Còn 199.550.000 đồng tiền giữ trên người các đối tượng tham gia đánh bạc không sử dụng vào mục đích đánh bạc).

Ngoài ra, khoảng 20 giờ ngày 07/12/2021, T12 (chưa rõ lai lịch) và Trịnh Ngọc L1 tổ chức đánh bạc tại phòng Kỹ thuật ở C, Công ty Đ, Khu Công nghiệp T mở rộng thuộc khu phố T, thị trấn C, huyện C, gồm: Diệp Văn T sử dụng 500.000 đồng tham gia đánh bạc, kết quả thua hết 500.000 đồng; Dương Thái Q sử dụng 5.400.000 đồng tham gia đánh bạc, thua hết 5.000.000 đồng, còn 400.000 đồng; Nguyễn Thị Ngọc V1 sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 300.000 đồng, còn 2.200.000 đồng; Nguyễn Thị Bích H2 sử dụng 3.500.000 đồng để đánh bạc, thua hết 500.000 đồng, còn lại 3.000.000 đồng; Đặng Trí T9 sử dụng 2.400.000 đồng để tham gia đánh bạc, thua hết 1.400.000 đồng, còn 1.000.000 đồng; Đinh Thị Cẩm N1 sử dụng 7.500.000 đồng tham gia đánh bạc, kết quả thắng 500.000 đồng, còn 8.000.000 đồng; Hà Văn T10 cùng T13 (chưa rõ lai lịch) hùn cùng tham gia đánh bạc 2.000.000 đồng, kết quả thua hết 2.000.000 đồng; Chu Đức T8 sử dụng 1.000.000 đồng, thua 500.000 đồng, còn 500.000 đồng; Nguyễn Thị C1 sử dụng 2.100.000 đồng tham gia đánh bạc, thua hết 1.300.000 đồng, còn 800.000 đồng; Nguyễn Văn P sử dụng 900.000 đồng tham gia đánh bạc, thua hết 900.000 đồng. Các đối tượng tham gia đánh bạc liên tục đến khoảng 21 giờ thì lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ: 03 hột xí ngầu; 01 dĩa sứ màu trắng; 01 nấp nhựa quấn băng keo đen, 1.500.000 đồng trên chiếu bạc; 27 điện thoại di động các loại, trong đó có 01 Điện thoại di động N2 màu đen, loại bán phím của Diệp Văn T; 19 xe mô tô, trong đó có 01 xe mô tô nhãn hiệu Pusin, loại Max, màu xám, không biển số của Diệp Văn T; 02 xe ô tô và 51.490.000 đồng tiền trên người các đối tượng tham gia đánh bạc.

Trong quá trình điều tra, Diệp Văn T bỏ trốn bị Công an huyện B và Công an huyện C truy nã, đến ngày 25/10/2023 thì bị bắt tại cửa khẩu Cảng hàng không Quốc tế T15, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 14/CT-VKSBL, ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Diệp Văn T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Diệp Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; các Điều 38; 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng tù đến 01 (một) năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án đã được xử lý tại Bản án số 11/2023/HS-ST ngày 11/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An và Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 09/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Bị cáo đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, cơ quan điều tra đã tiến hành ghi lời khai của họ, việc vắng mặt những người này không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người này.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với nhau và phù hợp với tất cả các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 24/10/2022, Công an xã P kiểm tra phát hiện khu vực chuồng gà phía sau quán “122” tại Ấp A, xã P, huyện B của Nguyễn Thanh T2 làm chủ cho Nguyễn Minh D1 (chưa rõ lai lịch) mượn địa điểm tổ chức đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức lắc “T11 - Xỉu”, các đối tượng tham gia đánh bạc gồm: Trương Thành T3, Nguyễn Công T4, Phùng Duy V, Nguyễn Thị T5, Diệp Văn T, Nguyễn Thị B, Trang Sỹ T6, Thạch Thị K, Dương Thị Thanh T7 với tổng số tiền tham gia đánh bạc 25.650.000 đồng, tạm giữ trên chiếu bạc 03 hột xí ngầu; 01 mảnh giấy có ghi chữ T11 - Xỉu; 01 chén bằng sứ; 01 hộp bằng nhựa và 5.500.000 đồng; tiền giữ trong người tham gia đánh bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc là 16.650.000 đồng.

Ngoài ra, Diệp Văn T còn tham gia đánh bạc vào ngày 07/12/2021 do T12 (chưa rõ lai lịch) và Trịnh Ngọc L1 tổ chức đánh bạc tại phòng Kỹ thuật ở C, Công ty Đ, Khu Công nghiệp T mở rộng thuộc khu phố T, thị trấn C, huyện C, gồm các đối tượng tham gia đánh bạc Dương Thái Q, Nguyễn Thị Ngọc V1, Nguyễn Thị Bích H2, Đặng Trí T9, Đinh Thị Cẩm N1, Hà Văn T10, Chu Đức T8, Nguyễn Thị C1 với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 30.500.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Diệp Văn T đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi đánh bạc này là một trong các nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác, để lại hậu quả xấu cho xã hội. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn thu lợi bất chính nhanh chóng mà bị cáo bất chấp pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm mới giáo dục được bị cáo và phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo tham gia đánh bạc 02 lần, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi pham tội của mình, bị cáo có ông ngoại và bà ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết như phân tích ở trên. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra thì bị cáo bỏ trốn, cơ quan điều tra ra quyết định truy nã. Cho nên, xét thấy phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo là nghiêm khắc, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với hành vi “Gá bạc” Nguyễn Thanh T2, hành vi “Đánh bạc” của Trương Thành T3, Nguyễn Công T4, Phùng Duy V, Nguyễn Thị T5, Nguyễn Thị B, Trang Sĩ T14, Thạch Thị K và Dương Thanh T7 đã được xử lý theo Bản án số 11/2023/HS-ST ngày 11/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Hành vi “Đánh bạc” của Dương Thái Q, Nguyễn Thị Ngọc V1, Nguyễn Thị Bích H2, Đặng Trí T9, Đinh Thị Cẩm N1, Hà Văn T10, Chu Đức T8, Nguyễn Thị C1 đã được xử lý theo Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 09/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Đối với đối tượng tên Nguyễn Minh D1, tên “Xệ”, chưa xác định được nhân thân, nên cơ quan điều tra tách hành vi tổ chức đánh bạc của D1, “Xệ” để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

Về vật chứng:

Đối với 01 Điện thoại di động N2 màu đen, loại bán phím; 01 Điện thoại di động Nokia màu trắng; 01 xe mô tô Biển số 52T1-3709; 01 xe mô tô nhãn hiệu Pusin, loại Max, màu xám, không biển số của Diệp Văn T, T không có sử dụng vào việc đánh bạc, nên cơ quan điều tra trả lại cho T là phù hợp.

Đối với các vật chứng còn lại, đã được xử lý tại Bản án số 11/2023/HS-ST ngày 11/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An và Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 09/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Diệp Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; các Điều 38; 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Diệp Văn T 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 25/10/2023.

Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Diệp Văn T bằng thời hạn hình phạt tù còn lại, kể từ ngày tuyên án (là ngày 05/4/2024). Hết thời hạn tạm giam này, Trại tạm giam có trách nhiệm trả tự do ngay cho bị cáo Diệp Văn T, nếu bị cáo không bị giam, giữ về hành vi vi phạm pháp luật khác.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Buộc bị cáo Diệp Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ