vanban.org

Bản án 36/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tuấn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn B 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tuấn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày: 21 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH

DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bồ Quốc Khánh;

2. Ông Đồng Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thu Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Tuấn B, sinh năm: 1990, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tuấn M, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ, con; có 04 chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/02/2020 bị xử phạt 01 (Một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án hình sự số 17/2020/HS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, đã chấp hành xong hình phạt chính và các khoản án phí ngày 29/12/2020; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/01/2024 đến ngày 22/01/2024 chuyển sang tạm giam đến nay - Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Ngô Quang D và ông Nguyễn Duy Đ - Cả hai đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Tuấn B là đối tượng nghiện ma túy, loại ma túy B thường xuyên sử dụng là Heroine, sử dụng dưới dạng tiêm dưới da.

Ngày 12/01/2024, B đi đến phường T, thành phố U, tỉnh Bình Dương tìm gặp một người đàn ông chạy xe ôm (Không rõ nhân thân lai lịch) và hỏi người này mua ma túy và được người chạy xe ôm đồng ý và nhận của B 200.000đ. Người đàn ông điều khiển xe đi khoảng 15 phút thì quay lại đưa cho B một đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy loại Heroine. B cất giấu ống nhựa chứa ma túy trong người và đi bộ đến nhà thuốc tây thuộc khu vực phường T, thành phố U hỏi mua 01 ống bơm kim tiêm, giá 7.000đ để sử dụng ma túy. Sau đó, B đi bộ vào bãi đất trống khu vực phường T, thành phố U, tỉnh Bình Dương sử dụng một phần ma túy trong ống nhựa, phần ma túy còn lại, B hàn kín hai đầu ống nhựa rồi cất giấu trong túi quần phía trước, ống bơm kim tiêm B cất giấu vào túi quần phía sau đang mặc trên người.

Khoảng 06 giờ 00 sáng, ngày 13/01/2024, B ra đường quá giang người đi đường để về nhà trọ tại xã H, thị xã (Nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương, nhưng người cho B đi nhờ xe chỉ đi đến khu vực thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương nên B đi bộ vào bãi đất trống cạnh đường ĐH xxx, thuộc Khu phố C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương ngồi nghỉ dưới gốc cây. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thị trấn T tuần tra, thấy khả nghi nên tiến hành kiểm tra hành chính đối với Phạm Tuấn B. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần sau bên phải của B cất giấu 01 (Một) ống kim tiêm đã qua sử dụng và ở túi quần trước B đang mặc có 01 (Một) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có chất tinh thể màu trắng, B khai nhận chất tinh thể màu trắng trong ống nhựa là ma túy, loại Heroine, B cất giấu để bản thân sử dụng. Công an thị trấn T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang bàn giao Phạm Tuấn B cùng tang vật cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên để điều tra xử lý theo thẩm quyền.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (Một) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng;

- 01 (Một) ống kim tiêm (Đã qua sử dụng);

Tại Bản kết luận giám định số 494/KL-KTHS(MT), ngày 22/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương đã kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng: 0,1015 gam.

Ngày 22/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tình Bình Dương đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Phạm Tuấn B để điều tra về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cáo trạng số 43/CT-VKS-BTU, ngày 24/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố Phạm Tuấn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát không rút, thay đổi, bổ sung quan điểm truy tố và giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Phạm Tuấn B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong phần luận tội, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo B từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định.

Bị cáo nhận tội, không tranh luận gì khác về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt do Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết ăn ăn, hối hận về hành vi phạm tội nên xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng huyện Bắc Tân Uyên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ông Ngô Quang D và ông Nguyễn Duy Đ là người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra, những người làm chứng kể trên đã khai rõ những tình tiết mình biết được về vụ án và cam đoan khai đúng sự thật nên việc vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên, bị cáo không có ý kiến khác. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về chứng cứ xác định tội danh đối với bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phạm Tuấn B đã thành khẩn khai nhận tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp các tình tiết, nội dung, vật chứng đã được xác định tại biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ, đồ vật đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Lúc 10 giờ 30 phút, ngày 13/01/2024, Phạm Tuấn B đã thực hiện hành vi tàng trữ 0,1015 gam ma túy, loại Heroine, được cất giấu trong người đã bị lực lượng Công an thị trấn T, huyện B phát hiện bắt giữ tại Khu phố C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương, B khai nhận lý do cất giấu ma túy trong người để bản thân sử dụng khi cần. Hành vi cất giấu 0,1015 gam ma túy loại Heroine do bị cáo B đã thực hiện đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 43/CT-VKS-BTU, ngày 24/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố Phạm Tuấn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền về ma túy, chất cấm khác của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc tàng trữ ma túy để sử dụng là hành vi bị Nhà nước nghiêm cấm, pháp luật trừng trị nghiêm minh nhưng bị cáo vẫn tàng trữ ma túy trong người sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, thích đáng đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân về tội trộm cắp tài sản đã được xóa án tích từ ngày 30/12/2022. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn, hối cải về sự việc phạm tội nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tội danh, mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 bì thư đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương niêm phong ghi số 494/KL-KTHS bên trong chứa chất ma túy loại Heroine, khối lượng 0,0799 gam (Khối lượng còn lại sau khi giám định); 01 (Một) ống bơm kim tiêm (Đã qua sử dụng) là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;

Đối với người đàn ông chạy xe ôm tại khu vực phường T, thành phố U, tỉnh Bình Dương (Không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo B, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên đã có văn bản thông báo đến Công an thành phố U, tỉnh Bình Dương tiếm hành xác minh, làm rõ xử lý là đúng quy định nên không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phạm tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Áp dụng khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1, 4 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tuấn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn B 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương niêm phong ghi số 494/PC09, bên trong chứa chất ma túy loại Heroine, khối lượng 0,0799 gam (Khối lượng còn lại sau khi giám định) và 01 (Một) ống bơm kim tiêm (Đã qua sử dụng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Tuấn B phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ