- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị H ly hôn Vũ Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H ly hôn anh Vũ Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/8/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Bách.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Linh và ông Nguyễn Văn Thành.
- Thư ký phiên toà: Bà Mạc Thị Thủy- Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 96/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 18 ngày 09/8/2024, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1989.
Đại chỉ: KDC MS, phƣờng T, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
Vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1983.
Địa chỉ: KDC MS, phƣờng T, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày: Chị H và anh Vũ Văn Đ, đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND xã T (nay là phƣờng T) ngày 17/9/2012, hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống. Sau ngày cƣới chị H về nhà anh Đ sống chung cùng bố mẹ anh Đ tại KDC MS, phƣờng T. Vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc đƣợc vài tháng thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ có tính hay nghen nên thƣờng xuyên chửi bới, đánh đập chị. Chị H đã nhận nhịn chịu đựng nhƣng do anh Đ bạo hành nhiều lần, đe dọa giết chị nên đến năm 2022 chị đã phải ra ngoài thuê nhà trọ ở riêng sống ly thân với anh Đ nhƣng vì thƣơng con và đƣợc bố mẹ chồng động viên chị lại quay về nhƣng chỉ đƣợc thời gian ngắn anh Đ lại bạo hành, đánh đập chị, bố mẹ chồng can ngăn anh Đ còn cầm dao gây thƣơng tích nên bị xử lý hành chính. Hiện nay tuy vẫn sống chung nhà nhƣng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị H xin đƣợc ly hôn với anh Vũ Văn Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Hoàng D- sinh ngày 22/7/2013. Hiện cháu D vẫn sống cùng chị tại gia đình nhà nội. Khi ly hôn chị xin đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cháu D và tự nguyện không yêu cầu anh Đ cấp dƣỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản, vay nợ, công sức chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh Đ không đến Tòa án làm việc, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án nên chị H có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xác minh thu thập tài liệu chứng cứ, sớm đƣa vụ án ra xét xử.
Bị đơn anh Vũ Văn Đ đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng cố ý không đến Tòa án làm việc, có quan điểm và ý kiến đối với vụ án cho Tòa án khi Tòa án ghi lời khai nhƣng không ký biên bản nên Tòa án đã lập biên bản theo quy định thể hiện: Anh đã nhận Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập của Tòa án gửi qua đƣờng bƣu điện nhƣng do anh bận nên không thể đến Tòa án làm việc đƣợc. Anh biết việc chị H xin ly hôn với anh đến Tòa án nhƣng anh không đồng ý ly hôn với chị H, anh xác định trong quá trình chung sống vợ chồng anh có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân thì rất nhiều lý do, anh chị đã kết hôn với nhau 12 năm nhƣng rất nhiều lần chị H nộp đơn ra Tòa án rồi lại rút đơn về, trƣớc đây anh đã vào Tòa án làm việc nhiều lần nên lần này đề nghị Tòa án cứ giải quyết theo đơn của chị H, anh còn bận đi làm không đến Tòa án làm việc đƣợc nên Tòa án cứ giải quyết vụ án vắng mặt anh.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị M (là mẹ đẻ anh Vũ Văn Đ, mẹ chồng chị Bùi Thị H) cung cấp: Năm 2012 anh Đ và chị H kết hôn, hai bên gia đình có tổ chức đám cƣới. Trƣớc khi kết hôn anh Đ đã có vợ và đã ly hôn. Sau khi kết hôn chị H về chung sống với anh Đ tại nhà của vợ chồng bà tại KDC MS. Quá trình chung sống vợ chồng anh Đ chị H có xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, có khi chỉ vì câu nói đùa vợ chồng cũng có thể cãi nhau, ngoài ra anh Đ có việc nghen tuông nên vợ chồng thƣờng xuyên mâu thuẫn cãi vã và xô xát nhiều năm, chị H nhiều lần nộp đơn ly hôn đến Tòa án. Gia đình đã nhiều lần khuyên giải động viên nhƣng không có kết quả, hiện anh chị vẫn sống chung nhà với nhau và với gia đình bà. Vợ chồng anh Đ chị H có 01 con chung là Vũ Hoàng D hiện vẫn sống chung nhà với vợ chồng và gia đình bà. Việc nuôi dƣỡng cháu D đề nghị Tòa án căn cứ vào nguyện vọng của các bên và quy định của pháp luật để giải quyết, vợ chồng bà già yếu, kinh tế khó khăn nên không thể hỗ trợ việc nuôi dƣỡng chăm sóc cháu D đƣợc.
Trưởng khu dân cư MS cung cấp: Công dân Vũ Văn Đ và Bùi Thị H là vợ chồng, có đăng ký cƣ trú tại KDC MS. Năm 2012 anh Đ kết hôn với chị H, trƣớc khi kết hôn với chị H thì anh Đ đã từng có vợ và đã ly hôn. Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau cùng bố mẹ đẻ anh Đ tại KDC MS. Quá trình chung sống, chị H và anh Đ thƣờng xuyên xảy ra mâu thuẫn nhƣng địa phƣơng không nắm đƣợc nguyên nhân, có lần xô xát phải trình báo công an phƣờng giải quyết, địa phƣơng cũng nắm đƣợc việc chị H đã nhiều lần làm thủ tục ly hôn với anh Đ đến Tòa án. Anh Đ là đối tƣợng nghiện ma túy từ lâu, thuộc diện theo dõi của địa phƣơng. Chị H và anh Đ có 01 con chung hiện vẫn thấy sống chung với gia đình tại KDC MS.
Công an phường T cung cấp: Công dân Vũ Văn Đ và Bùi Thị H là vợ chồng, có đăng ký cƣ trú tại KDC MS. Quá trình chung sống, chị H và anh Đ thƣờng xuyên xảy ra mâu thuẫn, có lần xô xát phải trình báo công an phƣờng giải quyết. Công an phƣờng đã lập biên bản làm việc, lấy lời khai của các bên và yêu cầu các bên cam kết không vi phạm. Anh Đ là đối tƣợng nghiện ma túy diện theo dõi của địa phƣơng và đã có lần bị Công an thành phố Chí Linh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn chị Bùi Thị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn anh Vũ Văn Đ vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh bày tỏ quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký tòa án trong quá trình thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng tại phiên toà đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đƣơng sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H ly hôn anh Vũ Văn Đ. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị H tiếp tục nuôi dƣỡng con chung Vũ Hoàng D- sinh ngày 22/7/2013 đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Anh Đ không phải cấp dƣỡng nuôi con chung cho chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu và đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung, không ai đƣợc cản trở. Về công sức, tài sản, vay nợ chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Về án phí: Buộc chị Bùi Thị H chịu 300.000đ án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đƣơng sự, ngƣời làm chứng đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
1.1. Bị đơn anh Vũ Văn Đ đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và cƣ trú tại KDC MS, phƣờng T, thành phố Chí Linh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.2. Nguyên đơn, bị đơn, ngƣời tham gia tố tụng khác đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa hợp lệ.
Bị đơn anh Vũ Văn Đ, mặc dù đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhƣng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; Nguyên đơn chị Bùi Thị H vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đ, đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND xã T (nay là phƣờng T) ngày 17/9/2012, hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống nên là hôn nhân hợp pháp.
Xem xét về quá trình chung sống, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H và anh Đ thấy rằng: Từ khi kết hôn năm 2012, vợ chồng chỉ hòa thuận hạnh phúc đƣợc thời gian ngắn đã nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, anh Đ ghen tuông và bạo hành chị H nhiều lần và kéo dài. Tuy vẫn sống chung nhà nhƣng tình cảm vợ chồng không còn, chị H nơm nớp lo âu. Nhiều lần chị H làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhƣng khi đƣợc Tòa án, gia đình khuyên giải động viên thì chị rút đơn về đoàn, nhƣng lần này anh Đ không đến Tòa án làm việc có ý bỏ mặc. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã có hành vi bạo lực gia đình và không thể hiện sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm ngh a vụ vợ chồng; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị H xin ly hôn với anh Vũ Văn Đ.
Về con chung: Xác định chị H và anh Đ có 01 con chung là Vũ Hoàng D- sinh ngày 22/7/2013. Hiện cháu D vẫn sống cùng chị tại gia đình nhà nội. Khi ly hôn nguyện vọng của chị H đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cháu D và không yêu cầu anh Đ cấp dƣỡng nuôi con chung cùng chị; anh Vũ Văn Đ cũng có ý kiến thể hiện muốn nuôi con nhƣng hiện đang là đối tƣợng nghiện, không có công việc và thu nhập, bản thân anh cũng đang sống phụ thuộc bố mẹ đẻ; cháu D có nguyện vọng muốn ở với chị H. Vì vậy, cần giao cho chị H tiếp tục nuôi dƣỡng cháu D đến khi đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Anh Đ không phải cấp dƣỡng nuôi con chung vì chị H không yêu cầu và anh Đ đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung không ai đƣợc cản trở là phù hợp thực tế phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản, vay nợ, công sức chung: không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị Bùi Thị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đƣơng sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H ly hôn anh Vũ Văn Đ.
2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị H tiếp tục nuôi dƣỡng con chung Vũ Hoàng D- sinh ngày 22/7/2013 đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Anh Đ không phải cấp dƣỡng nuôi con chung cho chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu và đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung, không ai đƣợc cản trở.
3. Về tài sản, công sức, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Bùi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ, đƣợc trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu ký hiệu BLTU/23 số 0003895, ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, chị H đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đƣơng sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - UBND phƣờng Thái Học (q/l hộ tịch); - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Bách |