vanban.org

Bản án 36/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thái N.

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thái N và anh Nguyễn Duy H được ly hôn. 2/. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thái Ng - Nguyễn Duy H"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thái N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19 – 6 – 2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dư Văn Thanh.

Ông Nguyễn Phước .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 223/2023/TLST–HNGĐ, ngày 28/11/2023, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thái N, sinh năm 1993. Địa chỉ: số C đường Đ, Khóm A, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1991. Địa chỉ: số B đường S, Khóm F, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 11 năm 2023 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thái N trình bày:

Chị Trần Thái N và anh Nguyễn Duy Hòa kết h và được Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày đăng ký 30/12/2016. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian về sau giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hôn nhân. Hiện nay chị N và anh H không còn chung sống cùng nhau từ tháng 7/2023 đến nay.

Trong quá trình chung sống, anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Trần Huỳnh T, sinh ngày 14/6/2018, hiện đang sống cùng chị N.

Trong quá trình chung sống, anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung.

Nay chị Trần Thái N yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thái N xin được ly hôn với anh Nguyễn Duy H.

Về con chung: Chị Trần Thái N xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Trần Huỳnh T, sinh ngày 14/6/2018 cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Nguyễn Duy H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Duy H đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không có ý kiến.

- Các tình tiết, sự kiện không cần chứng minh: Bị đơn không phản đối các tình tiết, sự kiện mà nguyên đơn trình bày. Căn cứ quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đây là các tình tiết, sự kiện được các đương sự thừa nhận không cần phải chứng minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn anh Nguyễn Duy H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thái N và anh Nguyễn Duy H tự nguyện kết hôn vào năm 2016 và được Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, tình trạng hôn nhân của anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn yêu thương chăm sóc lẫn nhau, anh chị đã vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh H.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Theo lời trình bày của chị N và Trích lục khai sinh số 253/TLKS-BS ngày 04/7/2018 thể hiện trong thời gian chung sống, anh chị có một người con chung là cháu Nguyễn Trần Huỳnh T, sinh ngày 14/6/2018, từ nhỏ đến nay cháu T ở cùng mẹ. Sau khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu T đến khi đủ 18 tuổi.

Nhận thấy, từ khi chị N và anh H sống riêng đến nay, cháu T do chị N trực tiếp nuôi dưỡng nên việc chị N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T là phù hợp với quy định pháp luật và anh H cũng không có ý kiến phản đối nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chị N và các thành viên gia đình không ai được cản trở anh H trong việc thăm nom con chung theo quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thái N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thái N xác định trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Trần Thái N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ số tiền 300.000 đồng chị N đã tạm ứng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001243 ngày 17/11/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Chị N đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.

Anh Nguyễn Duy H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thái N.

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thái N và anh Nguyễn Duy H được ly hôn.

2/. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:

Giao cháu Nguyễn Trần Huỳnh T, sinh ngày 14/6/2018 cho chị Trần Thái N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Chị Trần Thái N và các thành viên gia đình không ai được cản trở anh H trong việc thăm nom con chung theo quy định pháp luật.

Chị Trần Thái N không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3/. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thái N xác định trong thời gian chung sống chị N và anh H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thái N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001243 ngày 17/11/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Chị N đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.

Anh Nguyễn Duy H không phải chịu án phí.

5/. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đối với trường hợp vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

6/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ