vanban.org

Bản án 36/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B. Cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H.

Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Khải A, sinh ngày 25-4-2014 cho anh Nguyễn Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị B khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B. Cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2024
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Ứng Cương

2. Ông Nguyễn Văn Kiện

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Như Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 426/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXX-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1994 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp V, xã Ph, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

(Vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2012, chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Ngọc H quen biết và tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Ph, huyện C, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15-6-2012.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và do anh Hkhông chăm lo làm ăn nên chị B và anh Hthường xuyên cãi nhau, chị B đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2018 cho đến nay. Hiện nay chị B không còn tình cảm với anh Hnữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị B anh Nguyễn Ngọc H có 01 con chung tên Nguyễn Khải A, sinh ngày 25-4-2014, hiện nay đang sống chung với anh Hiếu. Chị B đồng ý giao con chung cho anh Htrực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị B xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Ngọc H: Không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Tại phiên tòa anh Hvắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Ngọc H chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Hvẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Ngọc H chung sống với nhau vào năm 2012 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được UBND xã Ph, huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15-6-2012, đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B: Vợ chồng chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Ngọc H không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của chị B tại Toà án: Chị B và anh Hcó nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và do anh Hkhông chăm lo làm ăn nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị B đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị B xác nhận hiện nay chị không còn tình cảm với anh Hnữa. Bên cạnh đó, chị B và anh Hđã sống ly thân từ đầu năm 2018 cho đến nay mà tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Toà án xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh Hđã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị B xin ly hôn với anh Hlà có căn cứ để chấp nhận.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị B anh Nguyễn Ngọc H có 01 con chung tên Nguyễn Khải A, sinh ngày 25-4-2014, hiện nay đang sống chung với anh H. Chị B đồng ý giao con chung cho anh Htrực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, từ thời gian chị B và anh Hsống ly thân cho đến nay, cháu Nguyễn Khải A vẫn do một mình anh Hchăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nguyễn Khải A cho anh Htiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không gửi văn bản ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không tiến hành hòa giải việc cấp dưỡng nuôi con giữa chị B và anh Hđược. Vì vậy, về phần cấp dưỡng nuôi con Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này anh Hcó yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Hđúng theo quy định pháp luật nhưng anh Hvẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa chị B và anh Hđược. Mặt khác, tại Toà án cũng như tại phiên toà chị B xác nhận trong thời gian chung sống cùng anh H, anh chị không tạo lập được tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị B là nguyên đơn trong vụ án, do đó chị phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án và tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B. Cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Khải A, sinh ngày 25-4-2014 cho anh Nguyễn Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị Nguyễn Thị B có quyền, ngh a vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị B được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001223 ngày 14-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, chị B không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

6. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Ngọc H vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ