vanban.org

Bản án 36/2024/DS-ST — Tranh chấp về thừa kế tài sản

Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố di chúc ngày 15-9-2011 của cụ Phạm Quang L vô hiệu; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo di chúc của ông Phạm Quang T.

Chia thừa kế của cụ Phạm Quang L theo pháp luật, cụ thể: Bà Phạm Thị Bích H, ông Phạm Quang F, bà Phạm Thị Ng, bà Phạm Thị Minh N, ông Phạm Quốc Đ, bà Phạm Thị Bích E, ông Phạm Quang T, ông Phạm Quang M, bà Phạm Thị Thu H, mỗi người được hưởng thừa kế trị giá là 380.160.000 (ba trăm tám mươi triệu, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Ông T tranh chấp thừa kế tài sản với bà H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố di chúc ngày 15-9-2011 của cụ Phạm Quang L vô hiệu; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo di chúc của ông Phạm Quang T.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 653 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/DS - ST
Ngày: 24-9-2024
V/v: Tranh chấp thừa kế về tài sản;
tranh chấp về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Việt Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Thắng

Bà Trịnh Thị Lan.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lã Ngọc Tiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.

Vào ngày 23-9-2024, ngày 24-9-2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2020/TLST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2020 về “Tranh chấp thừa kế về tài sản; tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, theo quyết đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXX-ST ngày 19-8-2024, quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-DS ngày 05-9-2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Phạm Quang T, sinh năm 1969; nơi đăng ký thường trú: Số 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số 291 đường C, phường Tr (địa chỉ cũ là phường V), thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

* Bị đơn:

1. Bà Phạm Thị Bích H, sinh năm 1958; nơi cư trú: Số 22/165 đường D, phường X, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

2. Bà Phạm Thị Ng, sinh năm 1962; nơi thường trú: Số 20/94 đường V, phường L, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Ng: Bà Trần Thị B, sinh năm 1987; nơi thường trú: Số 29Q, phường Q (địa chỉ cũ là phường H), thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (theo văn bản ủy quyền ngày 04-9-2024).

3. Bà Phạm Thị Minh N, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số 30 phố H, phường C, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

4. Ông Phạm Quốc Đ, sinh năm 1965; nơi cư trú: Số 445 đường Đ, xã T, huyện H, thành phố Hà Nội.

5. Bà Phạm Thị Bích E, sinh năm 1968; nơi cư trú: Số 18/75 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

6. Ông Phạm Quang M, sinh năm 1974; nơi đăng ký thường trú: Số 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Quang M: Bà Dương Thị Thu P (tức Dương Vũ Khánh L); nơi thường trú: Tập thể nhà máy in BTC tổ 25 đường N, quận Cầu Giấy, Hà Nội (theo văn bản ủy quyền ngày 27-3-2021).

* Những người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Quang F, sinh năm 1960 (đã bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tuyên bố mất tích theo quyết định số 10/2014/DS-ST ngày 29-9-2014)

2. Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số 2 tổ 9 phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Thu H: Ông Phạm Quang T, sinh năm 1969; nơi cư trú: 291 đường C, phường Tr (địa chỉ cũ là phường V), thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (theo văn bản ủy quyền ngày 26-6-2020)

3. Anh Phạm Trường G, sinh năm 1992; nơi thường trú: CHB2 khu nhà ở bán – TDP số 10 phường V, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội

Người đại diện theo ủy quyền của anh Phạm Trường G: Ông Phạm Quang T, sinh năm 1969; nơi cư trú: 291 đường C, phường Tr (địa chỉ cũ là phường V), thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (theo văn bản ủy quyền ngày 07-7-2020)

4. Chị Phạm Thị Mỹ K, sinh năm 1993; nơi thường trú: CHB2 khu nhà ở bán – TDP số 10 phường V, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị Mỹ K: Ông Phạm Quang T, sinh năm 1969; nơi cư trú: 291 đường C, phường Tr (địa chỉ cũ là phường V), thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (theo văn bản ủy quyền ngày 04-01-2021)

6. Chị Phạm Thị Thu Q, sinh năm 1996; nơi thường trú: 10/48 đường H, phường Tr, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số 59A tổ 30, phường Tr, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị Thu Q: Ông Phạm Quang T, sinh năm 1969; nơi cư trú: 291 đường C, phường Tr (địa chỉ cũ là phường V), thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (theo văn bản ủy quyền ngày 23-3-2020)

7. Chị Phạm Thị Hiền S, sinh năm 2001; nơi cư trú: Số 18/422 đường Tr, phường Q, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định

Người đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị Hiền S: Ông Phạm Quang T, sinh năm 1969; nơi cư trú: 291 đường C, phường Tr (địa chỉ cũ là phường V), thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (theo văn bản ủy quyền ngày 25-3-2020)

8. Ông Phạm Thanh R và bà Phạm Thị Thùy D – Không rõ địa chỉ

9. Bà Phạm Thị Ch, sinh năm 1965 và ông Cao Xuân X, sinh năm 1961; cùng cư trú tại: Tổ 10 thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X: Chị Trần Thị Ngọc A, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số 136 đường Tr, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (theo văn bản ủy quyền ngày 26-10-2020).

* Người làm chứng:

1. Ông Trần Ánh A, sinh năm 1945; nơi cư trú: Số 12 đường Ng, phường L, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

2. Bà Vũ Hồng V - Cán bộ tư pháp Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Nam Định.

* Tại phiên tòa ngày 23-9-2024:

- Có mặt: Ông Phạm Quang T, bà Phạm Thị Bích E, ông Phạm Quang M, ông Phạm Quốc Đ, bà Phạm Thị Bích H, bà Trần Thị Bình, chị Trần Thị Ngọc A.

- Vắng mặt: Bà Phạm Thị Minh N, ông Phạm Quang F, ông Phạm Thanh R, bà Phạm Thị Thùy D, ông Trần Ánh A, bà Vũ Hồng V.

* Tại phiên tòa ngày 24-9-2024:

- Có mặt: Ông Phạm Quang T, bà Phạm Thị Minh N, ông Phạm Quang M, ông Phạm Quốc Đ, bà Trần Thị B, bà Phạm Thị Bích H, chị Trần Thị Ngọc A.

- Vắng mặt: Bà Phạm Thị Bích E, ông Phạm Quang F, ông Phạm Thanh T, bà Phạm Thị Thùy D, ông Trần Ánh A, bà Vũ Hồng V.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và đề nghị của các đương sự như sau:

1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là ông Phạm Quang T trình bày:

Bố mẹ đẻ của ông Phạm Quang L là Phạm Văn Th và Phạm Thị T đã chết trước ông L. Bố ông là Phạm Quang L sinh năm 1936, chết ngày 21-11-2011. Mẹ ông là Phạm Thị H sinh năm 1937, chết năm 2007. Bố mẹ ông có những người con chung là: Phạm Thị Bích H, Phạm Quang F, Phạm Thị Ng, Phạm Thị Minh N, Phạm Thị Bích E, Phạm Quốc Đ, Phạm Quang T, Phạm Quang M và Phạm Thị Thu H. Do mâu thuẫn nên bố mẹ ông làm đơn ly hôn ra Tòa án, tại bản án số 29/PTHN ngày 20-9-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử cho bố mẹ ông là ông L và bà H ly hôn; về phần tài sản: Bản án giao cho mẹ ông là bà H sở hữu và sử dụng nhà mái bằng diện tích 120m2 và công trình phụ trên diện tích đất 295m2 tại nơi cư trú số 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định, còn ông L được giao sử dụng phần đất diện tích 100m2 và được nhận chênh lệch tài sản do bà H thanh toán là 192.000.000 đồng.

Trước khi chết bà H có lập di chúc cho vợ chồng ông được hưởng phần tài sản bà H được chia theo bản án trên. Đối với bản di chúc của bà H, sau khi bà H chết, ông khởi kiện và đã được Tòa án nhân dân thành phố Nam Định giải quyết bằng bản án sơ thẩm số 18/2016/TCDS-ST ngày 26-9-2016, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết bằng bản án phúc thẩm số 22/2017/TCDS-PT ngày 03-8-2017. Sau khi bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định có hiệu lực pháp luật, ông đã làm đơn yêu cầu và đã được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định thi hành bản án này.

Khi ông Phạm Quang L còn sống, thời gian đầu sau ly hôn với bà H, vợ chồng ông chu cấp cho ông L 1.000.000 đồng/tháng. Sau này khi ông L ở tại nhà nghỉ ở đường Nguyễn Bính, vợ chồng ông không chu cấp nữa. Khi ông L ốm, vợ chồng ông đưa ông L đi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định chữa bệnh, ra viện đưa ông L về số nhà 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định chăm sóc, thuốc men, thuê bác sĩ phục hồi chức năng cho ông L tại nhà. Sau đó, vợ chồng ông đưa ông L đi khám bệnh tại Bệnh viện K và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Bệnh viện chẩn đoán ông bị K giai đoạn cuối, bác sĩ trả về. Vợ chồng ông đưa ông L về số nhà 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định chăm sóc đến khi ông L chết.

Trong thời gian ông L ốm, sức khoẻ giảm sút nhưng đầu óc hoàn toàn minh mẫn, nhận biết hết những người đến thăm. Trước khi chết vào ngày 21-11-2011 tại số nhà 85 Đ, phường C, thành phố Nam Định ông L lập duy nhất 01 bản di chúc, được Ủy ban nhân dân phường C xác nhận vào ngày 15-09-2011. Trong di chúc, ông L giao cho ông quản lý tài sản, có trách nhiệm thanh toán tiền nợ của ông L và chia đều thành 10 phần cho những người có tên sau: Phạm Thị Bích H, Phạm Quang F, Phạm Thị Ng, Phạm Thị Minh N, Phạm Thị Bích E, Phạm Quang Đ, Phạm Quang T, Phạm Thị Thu H, Phạm Thanh R, Phạm Thị Thùy D, Phạm Trường G, Phạm Mỹ L, Phạm Thị Thu Q, Phạm Thị Hiền S. Theo ông được biết thì tài sản của ông L để lại ngoài những khoản nợ và những tồn đọng chưa được giải quyết thì hiện tại phần đất của ông L được chia theo bản án số 29/PTHN ngày 20-9-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đang bị các chị Phạm Thị Minh N và Phạm Thị Bích E chiếm giữ và xây dựng nhà trên đó.

Đối với số tiền 192.000.000 đồng mà Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định yêu cầu bà H thanh toán cho ông L thì ông không biết. Ông chỉ biết có biên bản hoà giải giữa ông L và bà H tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định để hai ông bà tự giải quyết. Khi đó, Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định có mời ông tham gia.

Do anh chị em không thống nhất được việc xử lý tài sản do ông L để lại nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Nam Định công nhận bản di chúc của ông Phạm Quang L lập ngày 15-9-2011 là hợp pháp và yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc.

2. Quá trình tham gia tố tụng, ông Phạm Quang M trình bầy: Bố ông là Phạm Quang L, sinh năm 1936 (mất năm 2011). Mẹ ông là Phạm Thị H (tức S), sinh năm 1937 (mất năm 2007). Sinh thời bố mẹ ông có 9 người con chung là: Phạm Thị Bích H sinh năm 1958; Phạm Thị Ng sinh năm 1962; Phạm Thị Minh N sinh năm 1964; Phạm Thị Bích E sinh năm 1968; Phạm Quang F sinh năm 1960 (đã bị Toà án tuyên bố mất tích); Phạm Quốc Đ sinh năm 1965; Phạm Quang T sinh năm 1969; Phạm Quang M sinh năm 1974; Phạm Thị Thu H sinh năm 1977. Năm 2004, ông L và bà H ly hôn. Tại bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã xử cho ông Phạm Quang L và bà Phạm Thị H ly hôn. Theo đó xác định:

Về nguồn gốc tài sản: Một phần do ông L và bà H mua, còn lại do Ủy ban nhân dân xã L cấp chung cho vợ chồng. Nhà được xây dựng năm 1986.

Về tài sản chung: Được xác định là điện tích 395m2 đất ở, tại số 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định. Trên đất có nhà 2 tầng, diện tích sàn 120m2. Cả nhà và đất được định giá là: 5.204.150.000đ (Năm tỷ hai trăm linh tư triệu một trăm năm mươi ngàn đồng)

Tổng các khoản nợ chung phải trả là 128.100.000đ (Một trăm hai tám triệu một trăm ngàn đồng). Trong đó: Anh Phạm Quang T = 63.600.000đ (Sáu mươi ba triệu sáu trăm ngàn đồng); anh Phạm Quang Đ = 27.000.000đ (Hai mươi bẩy triệu đồng); chị Phạm Thị Bích E 5 cây vàng 9999 trị giá 37.500.000 (Ba mươi bẩy triệu năm trăm ngàn đồng). Căn cứ vào biên bản định giá tài sản ngày 29-03-2004 để xác định giá trị.

Giá trị tài sản sau khi đã trả nợ chung còn lại là: 5.076.050.000đ (Năm tỷ bẩy mươi sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng) được chia làm 03 phần:

- Bà H và các con được hưởng 02 phần = 3.384.000.000đ (Ba tỷ ba trăm tám tư triệu đồng).

- Phần tài sản ông L được hưởng (nay thành di sản) là: 1.692.000.000đ (Một tỷ sáu trăm chín mươi hai triệu đồng); 100m2 đất ở trị giá 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng) và 192.000.000đ (Một trăm chín mươi hai triệu đồng). Tiền thanh toán chênh lệch tài sản 192.000.000đ phía bà H phải trả cho ông L và nợ chung phía bà H cũng phải trả theo trích lục án.

Ngày 05-01-2010, khi còn sống và tỉnh táo, tại phòng Công chứng số 1 tỉnh Nam Định, ông L đã lập giấy uỷ quyền giao cho con trai Phạm Quang M được toàn quyền thay mặt bố giải quyết phần diện tích 100m2 đất ở tại 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông L và khoản tiền chênh lệch tài sản ông L được hưởng là 192.000.000đ (Một trăm chín mươi hai triệu đồng) (Theo trích lục bản án dân sự số 29 ngày 20/9/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã có hiệu lực pháp luật).

Ngoài hai khối tài sản (tiền thu nợ và 100m2 đất) giao cho con trai Phạm Quang M toàn quyền định đoạt tại Giấy uỷ quyền lập ngày 05-01-2010, người lập uỷ quyền (ông L) không đề cập đến tài sản nào khác, hay bất cứ khoản nợ nào yêu cầu con trai Phạm Quang M phải thanh toán.

Ngày 26-02-2020, ông Phạm Quang T có đơn khởi kiện yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp. Toà án nhân dân thành phố Nam Định đã ban hành Thông báo về việc thụ lý vụ án số 08/TB-TLVA ngày 05-06-2020.

Ông đã có đơn yêu cầu phản tố, tuy nhiên, sau khi xem xét tài liệu hồ sơ vụ án, ông làm thêm một đơn yêu cầu phản tố đề nghị rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện trước đây, và đề nghị xem xét yêu cầu phản tố theo nội dung của đơn mới. Căn cứ tài liệu nội dung kèm đơn khởi kiện của ông T là bản Di chúc của ông Phạm Quang L lập ngày 15-09-2011 và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C là ông Vũ Anh T chứng thực ông có căn cứ để chứng minh Di chúc ngày 15-09-2011 của ông L là vô hiệu, bởi lẽ:

- Tại thời điểm ông L lập di chúc, ông đang bị tai biến, không tự đi lại được.

- Nội dung của di chúc đã vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội: khi lập di chúc, ông L đã uỷ quyền ngày 05-01-2010 cho ông có toàn quyền đối với thửa đất và số tiền 192.000.000 đồng theo bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Di chúc không xác định được người được hưởng di sản là các ông bà “Phạm Thanh R + Phạm Thị Thuỳ D”

- Di chúc không xác định được di sản để lại là tài sản gì và nơi có di sản để lại.

- Di chúc không xác định được những người ông L nợ.

- Người chứng thực vi phạm các quy định về việc chứng thực: Ông Vũ Tuấn A – Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C đã xác nhận, việc ông L lập di chúc không phải tại Ủy ban nhân dân phường, mà ông T chứng thực do bà Vũ Hồng V – Cán bộ tư pháp phường mang về đưa cho ông ký.

- Người mua bán tài sản của ông L được xác định là người cho vay nợ không đúng với quy định của pháp luật. Bà Phạm Thị Ch có cung cấp Hợp đồng cam kết, trong đó có nội dung: “Ông Phạm Quang L đồng ý bán ngôi nhà số 85 đường Đ – Nam Định cho ông Cao Xuân X và bà Phạm Thị Ch với giá 1.900.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm triệu đồng chẵn)”. Như vậy nội dung mua bán này không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của ông T. Mặt khác, việc mua bán này đã được Tòa án nhân dân thành phố Nam Định giải quyết bởi Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 01/2019/QĐST-DS ngày 29-01-2019. Đồng thời nội dung của Hợp đồng cam kết mâu thuẫn vì ông L không có người con trai nào tên là Phạm Quang T, ông L đồng ý bán ngôi nhà 85 đường Đ – Nam Định cho ông Cao Xuân X và bà Phạm Thị Ch nhưng phần ghi chú lại ghi: “bên mua anh Kh và anh M có trách nhiệm...”

Với những căn cứ và lý do nêu trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của ông.

Những vấn đề cụ thể ông Phạm Quang M yêu cầu Toà án giải quyết:

- Yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Nam Định công nhận tính pháp lý của Giấy uỷ quyền lập ngày 05-01-2010 của ông Phạm Quang L là hợp pháp.

- Yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Phạm Quang L gồm 100m2 đất ở tại 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định và khoản tiền chênh lệch tài sản ông L được hưởng là 192.000.000đ ( Một trăm chín mươi hai triệu đồng) là tài sản hợp pháp ông Phạm Quang L được hưởng) (Theo trích lục bản án dân sự số 29 ngày 20/9/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã có hiệu lực pháp luật).

- Làm rõ tính pháp lý và sự phù hợp với quy định của pháp luật hành chính, dân sự, đối với bản di chúc do anh Phạm Quang T cung cấp và Yêu cầu Toà án công nhận. Trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự hoặc Quản lý nhà nước. Đề nghị có biện pháp xử lý nghiêm minh. Trường hợp có dấu hiệu cấu thành tội phạm hình sự đề nghị Toà chuyển hồ sơ sang cơ quan CSĐT làm rõ xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

- Tuyên bố Di chúc ngày 15-09-2011 của ông Phạm Quang L được Ủy ban nhân dân phường Cửa Bắc chứng thực là vô hiệu.

- Tuyên bố Hợp đồng cam kết ngày 14-01-2010 giữa ông Phạm Quang L và ông Cao Xuân X và bà Phạm Thị Ch là vô hiệu. Hậu quả của hợp đồng vô hiệu ông không yêu cầu giải quyết.

3. Quá trình tham gia tố tụng, ông Phạm Quốc Đ trình bầy: Bố ông là Phạm Quang L, chết năm 2011, mẹ ông là Phạm Thị H chết năm 2007, bố mẹ ông sinh được 9 anh chị em gồm ông, ông T, bà H, bà N, bà Ng, bà Ng, ông T, ông T, bà H; bố mẹ ông không có con riêng, cũng không có con nuôi. Bố mẹ ông đã ly hôn từ năm 2004, nên tài sản của bố ông chỉ có 1 thửa đất có diện tích 100m2 trên đó không có công trình gì, thửa đất này nằm tại địa chỉ số 85 đường Đ, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, thửa đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện nay vẫn còn, anh chị em ông đang quản lý sử dụng, theo ông được biết trước khi chết bố ông không bán thửa đất này cho ai cả. Trước khi chết bố ông không lập di chúc vì bố ông bị tai biến gần 1 năm nên không thể lập di chúc được. Trước khi chết bố ông không có khoản nợ nào, bố ông cũng không nợ của ai. Ông đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định chia thừa kế theo pháp luật bằng hiện vật cho hàng thừa kế thứ nhất của bố ông.

Ông L và bà H khi còn chung sống có nợ ông số tiền 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu đồng). Sau khi ly hôn, số nợ chung của ông L và bà H được Toà án tuyên thuộc trách nhiệm trả nợ của bà Phạm Thị H. Điều này được công nhận tại bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã có hiệu lực pháp luật, tại phần Quyết định của bản án có nêu: “Giao bà H sở hữu và sử dụng nhà mái bằng diện tích 120m2 và công trình phụ trên diện tích đất 295m2 (chiều mặt đường 4,9m về phía đi Hà Nội chia dọc theo chiều dài thổ đất có hồ sơ kèm theo)

+ Phía Bắc giáp đường quốc lộ 21A; phía Nam giáp nhà ông Đính, ông Toàn; phía Đông giáp nhà ông L; phía Tây giáp đất nhà bà Hương, ông Vinh, ông Long, bà Cúc

(nay là số nhà 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định). Theo bản án số 29/PTHN ngày 20/09/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

Và “Bà H có trách nhiệm thanh toán ... và có trách nhiệm trả nợ chung cho ... anh Phạm Quang Đ 27.000.000 đồng (Hai muơi bảy triệu đồng).”

(Do tên đệm giữa hộ khẩu và căn cước không thống nhất, nên công an đã thống nhất điều chỉnh tên ông là Phạm Quốc Đ).

Từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến nay bà H chưa thực hiện trách nhiệm thanh toán số nợ cho ông.

Năm 2006, bà H chết, thửa đất bà H sở hữu theo bản án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời ông L cũng cố tình không yêu cầu thi hành án và không nhận đất được chia theo bản án.

Tuy nhiên, không hiểu bằng cách nào, con của bà H lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất do bà H để lại và nay yêu cầu công nhận di chúc của ông Phạm Quang L ngày 15-09-2011 là hợp pháp và yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc. Như vậy, có dấu hiệu tẩu tán tài sản, trốn tránh trách nhiệm thi hành án bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho con bà Phạm Thị H của Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định là trái với quy định của pháp luật. Bởi bà H chưa thi hành nghĩa vụ trả nợ theo bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, đến nay thì hiệu lực yêu cầu thi hành bản án bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 cũng không còn.

Từ những nội dung nêu trên, cho thấy quyền lợi và lợi ích hợp pháp của ông đã bị xâm phạm.

Những vấn đề cụ thể ông Phạm Quốc Đ yêu cầu Toà án giải quyết:

- Buộc ông Phạm Quang L và bà Phạm Thị H (đã chết); những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị H là các ông, bà: Phạm Thị Bích H; Phạm Thị Ng; Phạm Thị Minh N; Phạm Thị Bích E; Phạm Quang M; Phạm Thị Thu H; Phạm Quang T phải trả cho ông Phạm Quang Đ số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu đồng) và số tiền lãi tính từ ngày 20/09/2004 cho đến nay với mức lãi suất 20%/năm với tổng số tiền lãi là 27.000.000 x 20%/năm x 20 năm = 108.000.000 đồng.

- Tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu do Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cấp cho thửa đất của bà Phạm Thị H sở hữu và sử dụng nhà mái bằng diện tích 120m2 và công trình phụ trên diện tích đất 295m2 (chiều mặt đường 4,9m về phía đi Hà Nội chia dọc theo chiều dài thổ đất có sơ đồ kèm theo)

+ Phía Bắc giáp đường quốc lộ 21A; phía Nam giáp nhà ông Đính, ông Toàn; phía Đông giáp nhà ông L; phía Tây giáp đất nhà bà Hương, ông Vinh, ông Long, bà Cúc

(nay là số nhà 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định). Theo bản án số 29/PTHN ngày 20/09/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Tuyên bản di chúc của ông Phạm Quang L được lập ngày 15/09/2011 là vô hiệu.

4. Quá trình tham gia tố tụng, bà Phạm Thị Bích E trình bày: Ông L và bà H có nợ bà 05 (năm) cây vàng 9999, điều này đã được công nhận tại bản án đã có hiệu lực pháp luật, bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định. Tại phần Quyết định của bản án có nêu:“Giao bà H sở hữu và sử dụng nhà mái bằng diện tích 120m2 và công trình phụ trên diện tích đất 295m2 (chiều mặt đường 4,9m về phía đi Hà Nội chia dọc theo chiều dài thổ đất có hồ sơ kèm theo)

+ Phía Bắc giáp đường quốc lộ 21A; phía Nam giáp nhà ông Đính, ông Toàn; phía Đông giáp nhà ông L; phía Tây giáp đất nhà bà Hương, ông Vinh, ông Long, bà Cúc

(nay là số nhà 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định).

Và “Bà H có trách nhiệm thanh toán ... chị Phạm Thị Bích E 05 (năm) cây vàng 9999 trị giá là 37.500.000 đồng (Ba mươi bảy triệu, năm trăm ngàn đồng”.

Tuy nhiên, từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến nay bà H chưa thực hiện trách nhiệm thanh toán số nợ cho bà.

Năm 2006, bà H chết, thửa đất bà H sở hữu theo bản án chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông L lại không yêu cầu thi hành án đối với bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định. Việc chưa thi hành bản án có hiệu lực mà ông L lại cho rằng có quyền định đoạt tài sản là không đúng với quy định của pháp luật.

Không hiểu bằng cách nào con bà H lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất do bà H để lại. Như vậy, có dấu hiệu tẩu tán tài sản, trốn tránh trách nhiệm thi hành án bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho con bà H của Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định là trái với quy định của pháp luật bởi bà H chưa thi hành nghĩa vụ trả nợ theo bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

Đồng thời, bà cũng có đơn yêu cầu thi hành án gửi Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Tuy nhiên, thời hiệu yêu cầu thi hành án đối với bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã hết.

Từ những nội dung nêu trên, cho thấy quyền lợi và lợi ích hợp pháp của bà đã bị xâm phạm.

Những vấn đề cụ thể bà Phạm Thị Bích E yêu cầu Toà án giải quyết:

- Buộc ông Phạm Quang L và bà Phạm Thị H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị H là các ông, bà: Phạm Thị Bích H; Phạm Thị Ng; Phạm Thị Minh N; Phạm Quang Đạt; Phạm Quang M; Phạm Thị Thu H; Phạm Quang T phải trả cho bà Phạm Thị Bích E 05 (năm) cây vàng 9999 hoặc quy giá trị vàng tại thời điểm hiện tại.

- Tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu do Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cấp cho thửa đất của bà Phạm Thị H sở hữu và sử dụng nhà mái bằng diện tích 120m2 và công trình phụ trên diện tích đất 295m2 (chiều mặt đường 4,9m về phía đi Hà Nội chia dọc theo chiều dài thổ đất có sơ đồ kèm theo)

+ Phía Bắc giáp đường quốc lộ 21A; phía Nam giáp nhà ông Đính, ông Toàn; phía Đông giáp nhà ông L; phía Tây giáp đất nhà bà Hương, ông Vinh, ông Long, bà Cúc

(nay là số nhà 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định). Theo bản án số 29/PTHN ngày 20/09/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Tuyên bản di chúc của ông Phạm Quang L được lập ngày 15-09-2011 là vô hiệu.

5. Quá trình tham gia tố tụng, bà Phạm Thị Minh N, bà Phạm Thị Bích H, bà Phạm Thị Ng trình bày: Bố chúng tôi là Phạm Quang L, sinh năm 1936 (chết năm 2011). Mẹ chúng tôi là Phạm Thị H (tức S), sinh năm 1937 (chết năm 2007). Sinh thời bố mẹ chúng tôi có 9 người con chung là: Phạm Thị Bích H sinh năm 1958; Phạm Thị Ng sinh năm 1962; Phạm Thị Minh N sinh năm 1964; Phạm Thị Bích E sinh năm 1968; Phạm Quang F sinh năm 1960 (đã bị Toà án tuyên bố mất tích); Phạm Quốc Đ sinh năm 1965; Phạm Quang T sinh năm 1969; Phạm Quang M sinh năm 1974; Phạm Thị Thu H sinh năm 1977.

Về việc mua bán nhà đất tại số 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữa bà Phạm Thị Ch chồng là Cao Xuân X và ông L khi còn sống chúng tôi hoàn toàn không biết, cho đến khi có Thông báo của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định thì chúng tôi mới được biết. Chúng tôi cho rằng việc mua bán này không có căn cứ vì đó là phần tài sản khi đó chị em chúng tôi đang quản lý sau khi mẹ chúng tôi qua đời (2007) cho đến khi bị cưỡng chế trái pháp luật năm 2019. Mặt khác, tài sản bố chúng tôi được chia là 100m2 đất ở và 192.000.000 đồng tiền chênh lệch tài sản chứ không phải là nhà đất 85 Điện Biên. Vì vậy chúng tôi “không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Ch, ông X”

Về Di chúc của bố chúng tôi, chúng tôi cho rằng bản di chúc do ông Tú cung cấp là nguỵ tạo, chưa đủ căn cứ xác định là hợp pháp. Bởi lẽ phần tài sản bố chúng tôi được chia tại bản án ly hôn số 29/PTHN năm 2004 là 100m2 đất ở và khoản tiền chênh lệch tài sản bố chúng tôi được trả là 192.000.000 đồng, đã trở thành di sản thừa kế khi bố chúng tôi qua đời và là tài sản khi còn sống của bố chúng tôi đã uỷ quyền định đoạt cho ông M chia di sản thừa kế của bố chúng tôi theo pháp luật.

Ngày 26-02-2020, ông Phạm Quang T có đơn khởi kiện yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp. Toà án nhân dân thành phố Nam Định đã ban hành Thông báo về việc thụ lý vụ án số 08/TB-TLVA ngày 05-06-2020.

Căn cứ tài liệu nội kèm đơn khởi kiện của ông Tú là bản Di chúc của ông Phạm Quang L lập ngày 15-09-2011 và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C là ông Vũ Anh T chứng thực. Đề nghị Toà án nhân dân thành phố Nam Định tuyên bố Di chúc ngày 15-09-2011 của ông L là vô hiệu, bởi lẽ:

- Chủ thể lập di chúc: Tại thời điểm ông L lập di chúc, ông đang bị tai biến, không tự đi lại được.

- Nội dung của di chúc:

+ Nội dung của di chúc đã vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội: khi lập di chúc, ông L đang còn nợ bà Phạm Thị Bích E và ông Phạm Quang Đ nhưng chưa thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật là bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam định.

+ Không xác định được người được hưởng di sản là các ông bà “Phạm Thanh R, Phạm Thị Thuỳ D”

+ Không xác định được di sản để lại là tài sản gì và nơi có di sản để lại.

+ Không xác định được những người ông L nợ.

- Người chứng thực vi phạm các quy định về việc chứng thực: Ông Vũ Tuấn A – Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C đã xác nhận, việc ông L lập di chúc không phải tại Ủy ban nhân dân phường, mà ông Tuấn chứng thực do bà Vũ Hồng V – Cán bộ tư pháp phường mang về đưa cho ông ký.

- Người mua bán tài sản của ông L được xác định là người cho vay nợ không đúng với quy định của pháp luật. Bà Phạm Thị Ch có cung cấp Hợp đồng cam kết, trong đó có nội dung: “Ông Phạm Quang L đồng ý bán ngôi nhà số 85 đường Điện Biên – Nam Định cho ông Cao Xuân X và bà Phạm Thị Ch với giá 1.900.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm triệu đồng chẵn)”. Như vậy nội dung mua bán này không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của ông Tú. Mặt khác, việc mua bán này đã được Toà án nhân dân thành phố Nam Định giải quyết bởi Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 01/2019/QĐST-DS ngày 29-01-2019. Đồng thời nội dung của Hợp đồng cam kết mâu thuẫn vì ông L không có người con trai nào tên là Phạm Quang T, ông L đồng ý bán ngôi nhà 85 đường Điện Biên – Nam Định cho ông Cao Xuân X và bà Phạm Thị Ch nhưng phần ghi chú lại ghi: “bên mua anh Kh và anh M có trách nhiệm...”

Với những căn cứ và lý do nêu trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của chúng tôi.

Những vấn đề cụ thể bà Phạm Thị Minh N, bà Phạm Thị Bích H, Phạm Thị Ng yêu cầu Toà án giải quyết:

- Tuyên bố Di chúc ngày 15-09-2011 của ông Phạm Quang L được Ủy ban nhân dân phường C chứng thực là vô hiệu.

- Tuyên bố Hợp đồng cam kết ngày 14-01-2010 giữa ông Phạm Quang L và ông Cao Xuân X và bà Phạm Thị Ch là vô hiệu. Hậu quả của hợp đồng vô hiệu chúng tôi không yêu cầu giải quyết.

6. Quá trình tham gia tố tụng, bà Phạm Thị Ch, ông Cao Xuân X và tại đơn yêu cầu đề ngày 04-9-2024 chị Trần Thị Ngọc A trình bày: Năm 2010, ông L có ký giấy thỏa thuận bán nhà đất số 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định cho bà Ch, ông X. Bà Ch, ông X đã thanh toán cho ông L số tiền 1.000.000.000 đồng. Căn cứ hợp đồng mua bán nhà đất bản gốc có chữ ký ông L và biên bản khi làm việc với ông L trước khi chết, ông L đã thừa nhận có việc mua bán, có nhận tiền của bà Ch và ông X nên đề nghị Hội đồng xét xử xác định việc mua bán nhà đất giữa bà Ch, ông X với ông L là sự thật. Đồng thời, căn cứ bản án chia tài sản khi ly hôn giữa ông L và bà H đã xác định ông L có toàn quyền sở hữu nhà đất nên ông L ký Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất là hoàn toàn hợp pháp về chủ thể. Ngay sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng bên mua đã tiến hành làm thủ tục chuyển nhượng, việc chưa thực hiện xong về thủ tục chuyển nhượng do lỗi bên bán và lý do khách quan. Nhưng khi mua bán ông L đã ký cam kết nếu bên bán không bán nữa hoặc sau ba tháng không thể làm được giấy tờ thủ tục chuyển nhượng số tiền bên mua đã chuyển cho bên bán được coi như đã thanh toán xong. Như vậy, đúng theo nội dung cam kết ông L đã ký với bà Ch, ông X thì sau khi ông L nhận 1.000.0000.000 đồng nhà đất đã thuộc quyền sở hữu bên mua.

Việc ông L lập di chúc để lại tài sản cho các con là không hợp pháp vì: Tại thời điểm lập di chúc nhà đất đã thỏa thuận bán cho vợ chồng bà Ch, ông X, ông L đã nhận tiền. Trước khi chết ông L chưa khi nào thông báo chấm dứt hợp đồng mua bán với bà Ch, ông X. Chính vì vậy, Di chúc không ghi ông L để lại thừa kế tài sản gì.

Đến nay ông L đã chết, chúng tôi cũng không muốn chỉ vì nội dung ông L đã ký cam kết mà đòi quyền sở hữu toàn bộ nhà đất khi mới thanh toán được 1.000.000.000 đồng, vì tình cảm gia đình tôi tự nguyện như sau:

1. Số tiền 1.000.000.000VNĐ (một tỷ đồng) chúng tôi đã chuyển cho ông L thực hiện việc mua bán nhà đất, sẽ phải được hoàn trả cho gia đình chúng tôi và yêu cầu người thừa kế của ông L phải bồi thường thiệt hại (cách tính theo tỉ lệ đã trả 1tỷ/1,9 tỷ theo Hợp đồng = 0,53%. Theo giá trị nhà đất mà Toà án đã thẩm định giá tại thời điểm hiện tại là 6.500.000.000 đồng, thì những người thừa kế của ông L phải trả cho gia đình tôi: 6.500.000.000 đồng x 0,53% = 3.445.000.000 đồng.

Nếu các con ông L không ai muốn nhận thừa kế bằng hiện vật là nhà đất vì không có khả năng bồi thường thiệt hại cho gia đình tôi và thanh toán thừa kế cho các người thừa kế khác, thì gia đình tôi đề nghị Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng mua bán giữa gia đình tôi và ông L, giao nhà đất cho gia đình tôi sở hữu gia đình tôi sẽ có trách nhiệm thanh toán cho các con ông L phần còn thiếu tính theo tỷ lệ đã trả tại thời điểm mua bán và theo giá mà Hội đồng định giá đã quyết định là: 6.500.000.000 đồng x 0,47% = 3.055.000.000đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra Thông báo yêu cầu các đương sự làm bản tự khai và cung cấp tài liệu chứng cứ; thông báo tìm kiếm người tham gia tố tụng; quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông L; chữ ký, chữ viết của ông Phạm Quang M; lấy lời khai của những người làm chứng; tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo qui định của pháp luật; thu thập về nguồn gốc đất của cụ L...

* Tại phiên tòa:

Ông Phạm Quang T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử công nhận bản di chúc của cụ L là hợp pháp và phân chia tài sản theo di chúc; chấp nhận bồi thường thỏa đáng cho bà Ch.

Các bị đơn phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bản di chúc của cụ L mà nguyên đơn giao nộp là bản di chúc không hợp pháp, đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu đối với bản di chúc; các bị đơn có mặt đều không biết cụ L nợ ai cũng không thừa nhận việc bán đất, nhận tiền của cụ L với bà Ch, ông X nên đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng cam kết ngày 14-01-2010 giữa cụ L với bà Ch, ông X là vô hiệu.

Ông Đ đề nghị Tòa án: Buộc ông Phạm Quang L và bà Phạm Thị H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị H là các ông, bà: Phạm Thị Bích H; Phạm Thị Ng; Phạm Thị Minh N; Phạm Quang M; Phạm Thị Thu H; Phạm Quang T, Phạm Thị Bích E phải trả cho ông số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu đồng) và số tiền lãi tính từ ngày 20/09/2004 cho đến nay với mức lãi suất 20%/năm với tổng số tiền lãi là 27.000.000 x 20%/năm x 20 năm = 108.000.000 đồng; tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu do Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cấp cho thửa đất của bà Phạm Thị H sở hữu và sử dụng nhà mái bằng diện tích 120m2 và công trình phụ trên diện tích đất 295m2.

Bà Ng đề nghị Tòa án: Buộc ông Phạm Quang L và bà Phạm Thị H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị H là các ông, bà: Phạm Thị Bích H; Phạm Thị Ng; Phạm Thị Minh N; Phạm Quang M; Phạm Thị Thu H; Phạm Quang T, Phạm Quốc Đ phải trả cho bà 05 cây vàng 9999 hoặc quy giá trị vàng tại thời điểm hiện tại; tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu do Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cấp cho thửa đất của bà Phạm Thị H sở hữu và sử dụng nhà mái bằng diện tích 120m2 và công trình phụ trên diện tích đất 295m2.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nga nhất trí với quan điểm của các bị đơn.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Ch, ông X đề nghị Tòa án giải quyết theo đơn ngày 04-9-2024 và yêu cầu số tiền 100.000.000 đồng ông M đã nhận hộ cụ L được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tuy thời gian giải quyết vụ án còn để kéo dài; Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã được Tòa án đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; tuy nhiên trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa một số đương sự còn chưa chấp hành nghĩa vụ của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử

- Tuyên bố di chúc ngày 15-9-2011 của cụ Phạm Quang L là vô hiệu; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo di chúc của ông Phạm Quang T.

- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Quang L với bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật

- Chia di sản của cụ Phạm Quang L theo pháp luật:

+ Giao cho ông Phạm Quang T được sử dụng 100m2 đất và tài sản gắn liền với đất;

+ Ông Phạm Quang T có trách nhiệm thanh toán cho bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X số tiền gốc 900.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

+ Ông Phạm Quang T có trách nhiệm thanh toán cho bà Phạm Thị Bích H, ông Phạm Quang F, bà Phạm Thị Ng, bà Phạm Thị Minh N, ông Phạm Quốc Đ, bà Phạm Thị Bích E, ông Phạm Quang M, bà Phạm Thị Thu H, theo kỷ phần mỗi người được hưởng sau khi đã trừ số tiền phải thanh toán cho bà Ch, ông X

Thanh toán cho bà Phạm Thị Minh N, bà Phạm Thị Bích E, ông Phạm Quang M số tiền chênh lệch tài sản đối với các công trình xây dựng trên đất;

- Do cụ Phạm Quang L chết ngày 21-11-2011 nên đại diện theo ủy quyền của cụ L là ông Phạm Quang M theo Giấy ủy quyền ngày 05-01-2010 đã chấm dứt kể từ thời điểm cụ Phạm Quang L chết;

- Đối với khoản tiền 192.000.000 đồng cụ L được chia theo bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định: Cụ L đã có văn bản tự nguyện từ bỏ quyền lợi và không có thắc mắc gì về số tiền này; Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định đã ban hành quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số 03/QĐ-TĐYCTHA và quyết định đình chỉ thi hành án số 08/QĐ-THA ngày 23-10-2007 đối với phần tiền chênh lệch tài sản mà cụ L được hưởng, do đó, không đặt ra giải quyết;

- Các yêu cầu, đề nghị khác của đương sự không liên quan đến vụ án nên không đặt ra giải quyết;

- Các đương sự phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thủ tục tố tụng: Trong di chúc đề ngày 15-9-2011 của cụ Phạm Quang L có ghi tên ông Phạm Quang F, ông Phạm Thanh R, bà Phạm Thị Thùy D là những người được hưởng thừa kế do đó những người này được xác định là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tranh chấp về thừa kế trong vụ án còn liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Quang L với bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X. Bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X đã làm đơn khởi kiện việc tranh chấp này đến Toà án nhân dân thành phố Nam Định. Ngày 29-01-2019 bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X có đơn xin rút đơn khởi kiện, Toà án nhân dân thành phố Nam Định đã ra Quyết định số 01/2019/QĐST-DS đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy đinh tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó…, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật này…”, căn cứ theo quy định này thì bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X có quyền khởi kiện lại vụ án. Ngày 20-6-2020 bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X có đơn yêu cầu độc lập, do đó bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X được xác định là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Về những người tham gia tố tụng: Bà Phạm Thị Minh N có đơn xin thay đổi phiên tòa ngày 23-9-2024 nhưng không xuất trình được tài liệu chứng minh thuộc trường hợp bất khả kháng, đồng thời có mặt tại phiên tòa ngày 24-9-2024; bà Phạm Thị Bích E tuy vắng mặt tại phiên tòa ngày 24-9-2024 nhưng có mặt tham gia tố tụng tại phiên tòa ngày 23-9-2024; ông Phạm Quang F, ông Phạm Thanh R, bà Phạm Thị Thùy D đã được Tòa án thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng, triệu tập hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật; ông Vũ Anh T, bà Hồng V đã có lời khai, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp giữa những người thừa kế của cụ Phạm Quang L là tranh chấp thừa kế về tài sản. Căn cứ khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp giữa bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X với những người thừa kế của cụ Phạm Quang L là tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Về các yêu cầu, đề nghị khác của đương sự:

- Đối với yêu cầu của ông Phạm Quang M về việc yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Nam Định công nhận tính pháp lý của Giấy uỷ quyền lập ngày 05-01-2010 của cụ Phạm Quang L là hợp pháp, Hội đồng xét xử thấy: Tại Giấy ủy quyền cụ L ủy quyền cho ông M giải quyết phần diện tích đất 100m2 và khoản tiền chênh lệch 192.000.000 đồng cụ L được hưởng theo bản án số 29/PTHN ngày 20-9-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định. Giấy ủy quyền lập ngày 05-01-2010 có tên người ủy quyền là cụ Phạm Quang L, tên người được ủy quyền là ông Phạm Quang M, được công chứng là phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì đại diện theo ủy quyền của cá nhân chấm dứt khi người ủy quyền chết. Giấy uỷ quyền do cụ Phạm Quang L lập ngày 05-01-2010 nhưng đến ngày 21-11-2011 thì cụ L chết, do đó đối chiếu quy định trên thì đại diện theo ủy quyền của cụ Phạm Quang L là ông Phạm Quang M đã chấm dứt kể từ thời điểm cụ Phạm Quang L chết.

- Đối với yêu cầu của ông Phạm Quốc Đ về việc buộc cụ Phạm Quang L và cụ Phạm Thị H (đã chết); những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị H là các ông, bà: Phạm Thị Bích H, Phạm Thị Ng, Phạm Thị Minh N, Phạm Thị Bích E, Phạm Quang T, Phạm Quang M, Phạm Thị Thu H phải trả cho ông Phạm Quốc Đ số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu đồng) và số tiền lãi tính từ ngày 20-09-2004 cho đến nay với mức lãi suất 20%/năm với tổng số tiền lãi là 27.000.000 x 20%/năm x 20 năm = 108.000.000 đồng; tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu do Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cấp cho thửa đất của bà Phạm Thị H sở hữu và sử dụng nhà mái bằng diện tích 120m2 và công trình phụ trên diện tích đất 295m2, Hội đồng xét xử thấy:

Tại bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định chỉ có phần quyết định cụ Phạm Thị H phải thanh toán cho ông Đạt số tiền 27.000.000 đồng, không có phần nào quyết định việc bà Hằng, bà Nga, bà Nguyệt, bà Ngọc, ông M, bà Hương, ông Tú phải trả cho ông Phạm Quang Đ số tiền 27.000.000 và bản án này đã có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, phần tài sản, nghĩa vụ của bà H đã được Tòa án nhân dân thành phố Nam Định giải quyết bằng bản án sơ thẩm số 18/2016/TCDS-ST ngày 26-9-2016; Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết bằng bản án phúc thẩm số 22/2017/TCDS-PT ngày 03-8-2017, bản án này đã có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền yêu cầu thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Sau khi bản án phúc thẩm số 22/2017/TCDS-PT ngày 03-8-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định có hiệu lực pháp luật, ông Tú đã làm đơn yêu cầu và đã được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định tổ chức thi hành bản án này. Mặt khác, đây là vụ án “Tranh chấp thừa kế về tài sản” do cụ L để lại nên những yêu cầu nêu trên của ông Đạt không liên quan đến nội dung khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy Hội đồng xét xử không có cơ sở giải quyết những yêu cầu này của ông Đạt.

- Đối với yêu cầu của bà Phạm Thị Bích E về việc buộc ông Phạm Quang L và bà Phạm Thị H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị H là các ông, bà: Phạm Thị Bích H, Phạm Thị Ng, Phạm Thị Minh N, Phạm Quốc Đ, Phạm Quang M, Phạm Thị Thu H, Phạm Quang T phải trả cho bà Phạm Thị Bích E 05 (năm) cây vàng 9999 hoặc quy giá trị vàng tại thời điểm hiện tại; tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu do Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cấp cho thửa đất của bà Phạm Thị H sở hữu và sử dụng nhà mái bằng diện tích 120m2 và công trình phụ trên diện tích đất 295m2, Hội đồng xét xử thấy:

Tại bản án số 29/PTHN ngày 20-09-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định chỉ có phần quyết định cụ Phạm Thị H phải thanh toán cho bà Ngọc 05 cây vàng trị giá là 37.500.000 đồng, không có phần nào quyết định việc bà Hằng, bà Nga, bà Nguyệt, ông M, bà Hương, ông Tú, ông Đạt phải thanh toán cho bà Ngọc 05 cây vàng trị giá là 37.500.000 đồng và bản án này đã có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, phần tài sản, nghĩa vụ của bà H đã được Tòa án nhân dân thành phố Nam Định giải quyết bằng bản án sơ thẩm số 18/2016/TCDS-ST ngày 26-9-2016; Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết bằng bản án phúc thẩm số 22/2017/TCDS-PT ngày 03-8-2017, bản án này đã có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền yêu cầu thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Sau khi bản án phúc thẩm số 22/2017/TCDS-PT ngày 03-8-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định có hiệu lực pháp luật, ông Tú đã làm đơn yêu cầu và đã được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định tổ chức thi hành bản án này. Mặt khác, đây là vụ án “Tranh chấp thừa kế về tài sản” do cụ L để lại nên những yêu cầu nêu trên của bà Ngọc không liên quan đến nội dung khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy Hội đồng xét xử không có cơ sở giải quyết những yêu cầu này của bà Ngọc.

Về việc giải quyết nội dung vụ án:

Về thời điểm, địa điểm mở thừa kế:

Căn cứ vào giấy chứng tử số 89/2011 ngày 21-11-2011 của Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Nam Định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì nơi cư trú cuối cùng trước khi chết của cụ Phạm Quang L là số nhà 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định và cụ L chết ngày 21-11-2011 tại nơi cư trú trên. Căn cứ Điều 633 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ L là ngày 21-11-2011, địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của cụ Phạm Quang L tại số 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định.

Về thời hiệu khởi kiện thừa kế:

Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ L là ngày 21-11-2011. Căn cứ Điều 149, Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản xác nhận quyền thừa kế của mình là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Ngày 04-3-2020 ông Phạm Quang T khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận và chia di sản thừa kế theo di chúc của cụ L, như vậy ông Tú khởi kiện trong trong thời hiệu luật định nêu trên.

Về hàng thừa kế: Lời khai của nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận, bố mẹ đẻ của cụ Phạm Quang L đã chết trước cụ L. Sau khi ly hôn với cụ Phạm Thị H thì cụ L không kết hôn với người khác, bị đơn trình bày cụ L cũng không có người con riêng và con nuôi nào. Ông Tú trình bày được cụ L cho biết ông Phạm Thanh R và bà Phạm Thị Thùy D là con riêng của cụ L nhưng không xuất trình được tài liệu chứng minh lời khai của mình là có căn cứ.

Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì cụ Phạm Quang L có 09 người con gồm: Phạm Thị Bích H, sinh năm 1958; Phạm Quang F, sinh năm 1960; Phạm Thị Ng, sinh năm 1962; Phạm Thị Minh N, sinh năm 1964; Phạm Quốc Đ, sinh năm 1965; Phạm Thị Bích E, sinh năm 1968; Phạm Quang T, sinh năm 1969; Phạm Quang M, sinh năm 1974; Phạm Thị Thu H, sinh năm 1977, đồng thời những người này đều không có văn bản từ chối nhận di sản của cụ L để lại.

Do đó tại thời điểm xét xử, căn cứ quy định tại Điều 613 Bộ luật dân sự năm 2015 thì 09 người con có tên nêu trên được xác định là người thừa kế của cụ Phạm Quang L.

Xác định di sản của cụ Phạm Quang L để lại:

Đối với số tiền 192.000.000 đồng chênh lệch tài sản do cụ Phạm Thị H phải thanh toán cho cụ Phạm Quang L theo bản án số 29/PTHN ngày 20-9-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định: Theo các tài liệu do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định cung cấp và do các đương sự giao nộp đã thể hiện: Ngày 23-10-2007 cụ L đã cho các cháu nội số tiền 192.000.000 đồng, tự nguyện từ bỏ quyền lợi và không có thắc mắc gì và số tiền này sẽ được nhập vào khối tài sản chung của cụ H, sau này khi chia thừa kế của cụ H có trách nhiệm chia cho các cháu để làm vốn, cụ L không yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành số tiền 192.000.000 đồng nên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định đã ban hành quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số 03/QĐ-TĐYCTHA và quyết định đình chỉ thi hành án số 08/QĐ-THA ngày 23-10-2007 đối với phần tiền chênh lệch tài sản mà cụ L được hưởng. Mặt khác, bản án phúc thẩm số 22/2017/TCDS-PT ngày 03-8-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã công nhận bản san thư tài sản của cụ Phạm Thị H là hợp pháp và chia di sản của cụ H theo nội dung của di chúc. Bản án phúc thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật và Chi cục Thi hành án thành phố Nam Định đã tổ chức thi hành bản án này, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở giải quyết số tiền 192.000.000 đồng trong vụ án này.

Căn cứ vào lời khai và tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và do Tòa án thu thập như: Lời khai của đương sự; bản án đã có hiệu lực pháp luật số 29/PTHN ngày 20-9-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định; biên bản làm việc ngày 08-6-2011 tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Nam Định; văn bản số 687/CTHADS-GQKNTC ngày 10-8-2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định thể hiện phần tài sản của cụ Phạm Thị H đã được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định tổ chức thi hành; phiếu cung cấp hồ sơ địa chính số 521/CCHS-CNVPĐKĐĐ ngày 16-4-2021; biên bản xem xét thẩm định và định giá ngày 10-7-2024 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ có thể khẳng định vào thời điểm mở thừa kế 100m2 đất của cụ L được chia vẫn còn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định di sản để lại của cụ Phạm Quang L là 100 m2 đất có địa chỉ tại số 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định.

Căn cứ theo mức giá đã được Hội đồng định giá quyết định tại biên bản định giá ngày 10-7-2024 là 65.000.000 đồng/m2 đất thì giá trị 100m2 đất cụ L để lại là: 65.000.000 đồng/m2 x 100m2 đất = 6.500.000.000 (sáu tỷ, năm trăm triệu) đồng.

Về di chúc: Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của bản di chúc ngày 15-9-2011 của cụ Phạm Quang L

* Điều kiện về hình thức:

Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn nộp một bản sao di chúc đề ngày 15-9-2011 của cụ Phạm Quang L tại nơi cư trú số nhà 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Bản di chúc được đánh máy gồm có 02 trang; có ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người được hưởng di sản; chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ; di chúc có chữ ký của người làm chứng; có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Nam Định. Mặt khác, tại bản kết luận giám định số 103/KLHC-PC09 ngày 24-7-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Chữ viết, chữ ký tại mục “người viết di chúc” trong bản di chúc ngày 15-9-2011 là chữ viết, chữ ký của cụ L. Như vậy hình thức di chúc đảm bảo qui định tại Điều 649, Điều 650 của Bộ luật dân sự năm 2005.

* Điều kiện về nội dung:

- Bản di chúc đề ngày 15-9-2011 có các nội dung: Ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người được hưởng di sản; việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ… Theo các tài liệu có trong hồ sơ như biên bản lấy lời khai của người làm chứng là ông Trần Ánh A, biên bản lấy lời khai của bà Vũ Hồng V, cán bộ tư pháp Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Nam Định thì tại thời điểm lập di chúc thể hiện ý chí đối với tài sản của mình cụ L tuy phải ngồi xe lăn nhưng tinh thần minh mẫn, tỉnh táo; biên bản làm việc ngày 08-6-2011 tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Nam Định có chữ ký của cụ L, bà Ngọc; bản kết luận giám định số 103/KLHC-PC09 ngày 24-7-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Chữ viết, chữ ký tại mục “người viết di chúc” trong bản di chúc ngày 15-9-2011 là chữ viết, chữ ký của cụ L. Điều đó đã thể hiện bản di chúc này được lập theo sự tự nguyện của cụ L và cụ L đã ký vào bản di chúc này là sự thật.

Theo quy định tại điểm d, đ khoản 1 Điều 653 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì nội dung của di chúc lập bằng văn bản phải nêu rõ di sản để lại và nơi có di sản; chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ. Tuy nhiên, tại dòng thứ 19 từ trên xuống trang 01 của bản di chúc có ghi: “…sau khi qua đời số tài sản của tôi sẽ giao cho con trai Phạm Quang T quản lý. Hiện tại tôi còn nợ một số người, anh Tú có trách nhiệm bán số tài sản của tôi và thanh toán tiền nợ cho những người tôi nợ. (Khi những người tôi nợ cung cấp đầy đủ giấy tờ của tôi vay nợ để Tú thanh toán cho tôi)…”. Như vậy, trong di chúc cụ L không xác định rõ di sản để lại gồm có những gì và nơi có di sản là ở đâu; đồng thời cụ L không nêu số tiền cụ thể còn nợ là bao nhiêu, tên tuổi chủ nợ là ai, địa chỉ liên hệ của những người cho cụ L vay nợ ở đâu; người được hưởng thừa kế là Phạm Thanh R, Phạm Thị Thùy D không có ngày tháng năm sinh, không có địa chỉ cư trú. Do đó nội dung của di chúc lập bằng văn bản ngày 15-9-2011 của cụ L đã không đảm bảo quy định tại điểm d, đ khoản 1 Điều 653 của Bộ luật dân sự năm 2005.

* Điều kiện về chủ thể lập di chúc: Theo quy định tại khoản 3 Điều 652 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì: “di chúc của người bị hạn chế về thể chất phải được người làm chứng lập thành văn bản…”. Theo các tài liệu có trong hồ sơ thì tại thời điểm lập di chúc thể hiện ý chí đối với tài sản của mình cụ L tuy tinh thần minh mẫn, tỉnh táo nhưng phải ngồi xe lăn, điều đó chứng tỏ thời điểm đó cụ L là người bị hạn chế về thể chất. Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng là ông Trần Ánh A, biên lấy lời khai của bà Vũ Hồng V, cán bộ tư pháp Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Nam Định đã thể hiện: Di chúc đề ngày 15-9-2011 được đánh máy sẵn, không phải do ông Kim và ông Thi là hai người làm chứng việc cụ L tuyên bố chia tài sản cho các con lập thành văn bản nên không đảm bảo theo quy định tại khoản 3 Điều 652 của Bộ luật dân sự năm 2005 đối với di chúc hợp pháp.

Từ những nhận định ở trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu công nhận bản di chúc của cụ Phạm Quang L lập ngày 15-9-2011 là hợp pháp và yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc của nguyên đơn. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu phân chia di sản của cụ L để lại theo pháp luật.

Nghĩa vụ về tài sản của cụ L để lại:

Theo nội dung bản di chúc ngày 15-9-2011 thì cụ L có nợ một số người nhưng không nêu số tiền nợ, tên tuổi địa chỉ cụ thể của những người này. Những người được thừa kế của cụ L cũng không cung cấp được về thông tin số tiền nợ, tên tuổi địa chỉ cụ thể những người mà cụ L còn nợ. Theo đề nghị của ông Phạm Quang T, Tòa án đã niêm yết, đăng thông tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng đối với những người cho cụ L vay nợ nhưng tại thời điểm xét xử vẫn không có tài liệu chứng cứ về vấn đề này, đồng thời di chúc không hợp pháp như nhận định ở trên do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở giải quyết trong vụ án này.

Đối với yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất của bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X với cụ Phạm Quang L:

Lời khai của các đương sự có sự mâu thuẫn khi những người thừa kế di sản của cụ L không thừa nhận việc mua bán đất giữa cụ L với bà Ch và ông X, còn bà Ch, ông X thì trình bầy cụ L nhận số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng của ông bà, Hội đồng xét xử thấy:

- Theo quyết định của bản án số 29/PTHN ngày 20-9-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định thì cụ L được giao sử dụng 100m2 đất có địa chỉ số 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định và bản án này đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, cụ Phạm Quang L đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được quyền chuyển nhượng diện tích đất được giao. Ngày 12-01-2010 cụ L đã lập giấy bán tài sản đất thổ cư cho bà Ch, ông X với giá trị là 1.950.000.000 đồng; ngày 14-01-2010 cụ L với bà Ch, ông X lập hợp đồng cam kết với giá trị tài sản là 1.900.000.000 đồng, mục đích để thực hiện nội dung hợp đồng bán tài sản đất thổ cư hai bên đã lập trước đó vào ngày 12-01-2010 và tại hợp đồng cam kết này thể hiện cụ L có chữ viết, chữ ký xác nhận đã trực tiếp nhận số tiền 900.000.000 đồng do bà Ch, ông X trả. Như vậy có thể khẳng định giấy bán tài sản đất thổ cư và hợp đồng cam kết được lập giữa cụ L với ông X, bà Ch thực chất là hợp đồng chuyển nhượng đất giữa các bên. Bản kết luận giám định số 106/KLHC-PC09 ngày 02-8-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Chữ viết, chữ ký trong Giấy vay tiền đề ngày 29 tết tháng 12, Giấy mua bán tài sản đất thổ cư ngày 12-01-2010, Hợp đồng cam kết ngày 14-01-2010 là chữ viết, chữ ký của cụ L; chữ ký, chữ viết của người làm chứng bên bán trong Giấy mua bán tài sản đất thổ cư ngày 12-01-2010 là của ông Phạm Quang M. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận số tiền bà Ch, ông X đã trả cho cụ L để mua đất của cụ L là 900.000.000 đồng.

Đối với số tiền 100.000.000 đồng bà Ch trình bày đã giao cho ông Phạm Quang M, còn ông M xác nhận đã cầm hộ số tiền 100.000.000 đồng này về trả cho cụ L: Do lời khai của bà Ch, ông M có sự mâu thuẫn về việc cụ L đã được nhận số tiền này hay chưa và các bên cũng không đưa được ra tài liệu chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ, đồng thời Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận số tiền cụ L đã nhận từ bà Ch, ông X là 900.000.000 đồng như nhận định ở trên. Do đó, Hội đồng xét xử xác định số tiền này là tranh chấp riêng giữa bà Ch, ông X với ông M nên không giải quyết trong vụ án này.

- Xét tính hợp pháp của Giấy mua bán tài sản đất thổ cư ngày 12-01-2010, Hợp đồng cam kết ngày 14-01-2010:

Tại điểm b khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003 quy định: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Tuy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa cụ L với bà Ch, ông X được lập thành văn bản nhưng không được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của khoản 2 Điều 122, khoản 2 Điều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm b khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 401 Bộ luật dân sự 2005 nên hợp đồng chuyển nhượng đất giữa cụ L với bà Ch, ông X là vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 410 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

- Xác định lỗi của các bên trong việc không thực hiện được thỏa thuận trong hợp đồng: Căn cứ vào các tại liệu chứng cứ như biên bản làm việc ngày 08-6-2011 tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Nam Định, tài liệu Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Nam Định cung cấp và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đã thể hiện sau khi nhận số tiền 900.000.000 đồng, mặc dù bà Ch, ông X đã yêu cầu nhưng cụ L không làm thủ tục sang tên chính chủ cho bà Ch, ông X đối với mảnh đất đã chuyển nhượng theo thỏa thuận trong hợp đồng. Sau khi cụ L chết, những người thừa kế của cụ L cũng không thực hiện nghĩa vụ do cụ L để lại. Do đó Hội đồng xét xử xác định lỗi không thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng đất thuộc về cụ L và những người thừa kế của cụ L.

- Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Do cụ L và những người thừa kế của cụ L có lỗi trong việc không thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất với bà Ch, ông X, đồng thời bà Ch, ông X đã trả cụ L số tiền 900.000.000 đồng như nhận định ở trên. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 137, khoản 2 Điều 307, khoản 1 Điều 308 Bộ luật dân sự 2005 thì bà Ch, ông X được hoàn trả lại 900.000.000 đồng và được bồi thường thiệt hại xảy ra. Số tiền thiệt hại xảy ra được tính như sau: (giá trị đất hiện tại – giá tiền hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng cam kết ngày 14-01-2010) x tỷ lệ (số tiền đã trả : giá tiền hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng cam kết ngày 14-01-2010). Cụ thể như sau: (6.500.000.000 đồng – 1.900.000.000 đồng) x (900.000.000 đồng : 1.900.000.000 đồng) = 2.178.560.000 đồng (đã làm tròn số).

Như vậy, bà Ch, ông X được nhận lại số tiền là 900.000.000 đồng + 2.178.560.000 đồng = 3.078.560.000 (ba tỷ, không trăm bảy mươi tám triệu, năm trăm sáu mươi nghìn) đồng trong giá trị di sản cụ L để lại.

Về phân chia tài sản còn lại của cụ L sau khi đã trừ số tiền 3.078.560.000 đồng phải thanh toán cho bà Ch, ông X:

Như đã nhận định ở trên, tài sản cụ L để lại có giá trị là 6.500.000.000 đồng. Như vậy, sau khi đã trừ số tiền cụ L phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bà Ch, ông X thì số tiền những người thừa kế theo pháp luật của cụ L được hưởng cụ thể là 6.500.000.000 đồng - 3.078.560.000 đồng = 3.421.440.000 (ba tỷ, bốn trăm hai mươi mốt triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn) đồng. Chia theo kỷ phần thì bà Phạm Thị Bích H, ông Phạm Quang F, bà Phạm Thị Ng, bà Phạm Thị Minh N, ông Phạm Quốc Đ, bà Phạm Thị Bích E, ông Phạm Quang T, ông Phạm Quang M và bà Phạm Thị Thu H, mỗi người được hưởng là 3.421.440.000 đồng : 9 = 380.160.000 đồng (đã làm tròn số).

Về đề nghị được chia bằng hiện vật đối với thửa đất: Theo quy định tại Điều 8 Quyết định số 09/2022/QĐ-UBND ngày 26-4-2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định đối với diện tích, kích thước chiều rộng, chiều sâu tối thiểu của thửa đất ở sau khi tách thửa: Thửa đất là bộ phận cấu thành dãy phố, ngõ phố có chiều rộng mặt đường > 2,5m (vị trí tính chiều rộng là vị trí hẹp nhất từ đường chính đến thửa đất) thì diện tích tối thiểu là 30m2, chiều rộng mặt tiền tối thiểu là 4m, chiều sâu tối thiểu so với chỉ giới xây dựng là 5m. Diện tích thửa đất cụ L được chia theo bản án phúc thẩm số 29/PTHN ngày 20-9-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định là 100m2 (chiều rộng là 5m theo chiều đi về phía thành phố Nam Định); những người được hưởng thừa kế theo pháp luật được nhận định ở trên gồm 09 người là bà Phạm Thị Bích H, ông Phạm Quang F, bà Phạm Thị Ng, bà Phạm Thị Minh N, ông Phạm Quốc Đ, bà Phạm Thị Bích E, ông Phạm Quang T, ông Phạm Quang M và bà Phạm Thị Thu H. Như vậy, nếu chia bằng hiện vật cho 09 người con thì diện tích đất của cụ L để lại không đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 8 Quyết định số 09/2022/QĐ-UBND ngày 26-4-2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định đối với diện tích, kích thước chiều rộng, chiều sâu tối thiểu của thửa đất ở sau khi tách thửa. Ngoài ra, Hội đồng xét xử còn thấy, nguyện vọng của cụ L là giao cho ông Tú có trách nhiệm bán đất và thanh toán nợ và phần thừa kế cho những người được hưởng thừa kế tài sản khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở giao cho ông Phạm Quang T được quyền sử dụng diện tích đất do cụ L để lại và có trách nhiệm thanh toán cho bà Ch, ông X số tiền 3.078.560.000 đồng; thanh toán theo kỷ phần cho bà Phạm Thị Bích H, ông Phạm Quang F, bà Phạm Thị Ng, bà Phạm Thị Minh N, ông Phạm Quốc Đ, bà Phạm Thị Bích E, ông Phạm Quang M, bà Phạm Thị Thu H, mỗi người số tiền thừa kế là 380.160.000 đồng.

Bản án số 29/PTHN ngày 20-9-2004 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xác định các hộ liền kề đối với diện tích đất của cụ L nhưng tại thời điểm xét xử các hộ liền kề đã có sự thay đổi về chủ sử dụng, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định và định giá cùng sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo để xác định ranh giới diện tích đất giao cho ông Tú.

Căn cứ vào biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 10-7-2024 thì tổng diện tích đất cụ L sử dụng thực tế là 201,4m2 chưa trừ diện tích đất quy hoạch giao thông (nhiều hơn so với phần quyết định của bản án số 29/PTHN ngày 20-9-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định) và theo xác nhận của Ủy ban nhân dân phường Cửa Bắc thì hiện tại không có tranh chấp với các hộ liền kề. Căn cứ vào quyết định đã có hiệu lực pháp luật của bản án số 29/PTHN ngày 20-9-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, Hội đồng xét xử giao cho ông Phạm Quang T được quyền sử dụng diện tích 100m2 đất của cụ L và tạm giao cho ông Tú quản lý diện tích thừa còn lại; phần diện tích đất thừa nếu sau này những người thừa kế theo pháp luật của cụ L có yêu cầu thì liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo qui định của pháp luật.

Ngoài ra, tại biên bản định giá ngày 10-7-2024 Hội đồng định giá đã định giá tài sản trên đất như sau:

- 01 lán lợp tôn, không tường, cột kèo sắt, nền lát gạch 40x40 ceramic có giá trị cụ thể là: 704.000 đồng/m2 x 20% giá trị còn lại x 1,02 hệ số địa bàn thành phố x 31,3m2 = 4.496.000 đồng (đã làm tròn số)

- 01 phòng quây tôn, mái tôn, ốp trần nhựa, nền lát gạch 40x40 ceramic, cao 2,85m có giá trị cụ thể là:

+ Phần tôn quây và mái có giá trị cụ thể là: 418.000 đồng/m2 x 20% giá trị còn lại x 1,02 hệ số địa bàn thành phố x 135,9m2 = 11.589.000 đồng (đã làm tròn số).

+ Phần nền có giá trị là: 286.000 đồng/m2 x 20% giá trị còn lại x 1,02 hệ số địa bàn thành phố x 107,2m2 = 6.255.000 đồng (đã làm tròn số).

+ Phần ốp trần nhựa có giá trị là: 244.000 đồng x 20% giá trị còn lại x 1,02 hệ số địa bàn thành phố x 107,2m2 = 5.336.000 đồng (đã làm tròn số).

- Sân láng xi măng; 01 nhà vệ sinh xây gạch mái tôn; 01 nhà vệ sinh xây gạch mái fiprô có giá trị cụ thể là:

+ Phần sân láng xi măng có giá trị là: 192.000 đồng/m2 x 20% giá trị còn lại x 1,02 hệ số địa bàn thành phố x 51,3m2 = 2.010.000 đồng (đã làm tròn số).

+ Nhà vệ sinh xây gạch mái tôn có giá trị là: 1.496.000 đồng/m2 x 20% giá trị còn lại x 1,02 hệ số địa bàn thành phố x 3,8m2 = 1.160.000 đồng (đã làm tròn số).

+ Nhà vệ sinh xây gạch mái fipro có giá trị là: 1.496.000 đồng/m2 x 20% giá trị còn lại x 1,02 hệ số địa bàn thành phố x 1,4m2 = 428.000 đồng (đã làm tròn số).

Tổng cộng: 4.496.000 đồng + 11.589.000 đồng + 6.255.000 đồng + 5.336.000 đồng + 2.010.000 đồng + 1.160.000 đồng + 428.000 đồng = 31.274.000 đồng

Số tài sản trên đất này bà Ngọc, bà Nguyệt, ông M trình bầy cùng bỏ tiền xây dựng trước thời điểm ông Tú khởi kiện nhưng không có đương sự nào có ý kiến gì. Do ông Tú có quyền sử dụng 100m2 đất và tài sản trên đất nên phải có trách nhiệm trả chênh lệch các tài sản trên cho bà Ngọc, bà Nguyệt, ông M, cụ thể mỗi người là: 31.274.000 đồng : 3 = 10.425.000 đồng (đã làm tròn số).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, những người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Quang T còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đối với kỷ phần thừa kế của ông Phạm Quang F: Cho đến thời điểm xét xử vụ án ngoài quyết định tuyên bố mất tích số 10/2014/DS-ST ngày 29-9-2014 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định thì chưa có tài liệu nào thể hiện ông Phạm Quang F đã chết nên căn cứ án lệ số 06/2016/AL ngày 06-4-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì kỷ phần thừa kế của ông Phạm Quang F được tạm giao cho ông Phạm Quang M quản lý, để sau này ông Phạm Quang F hoặc người thừa kế của ông Phạm Quang F có quyền hưởng theo quy định của pháp luật tố tụng.

Về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản; chi phí giám định tài liệu ông Tú tự nguyện nộp và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Chi phí giám định tài liệu bà Ch, ông X tự nguyện nộp và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Do nguyên đơn và các bị đơn được chia tài sản thừa kế theo pháp luật, đồng thời yêu cầu độc lập của bà Ch, ông X được chấp nhận nên căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm b khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí dân sự sơ thẩm của các đương sự được tính như sau:

- Những người được hưởng thừa kế của cụ Phạm Quang L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản được chia sau khi trừ đi giá trị tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba và một phần án phí ngang nhau đối với phần tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba, cụ thể:

+ Đối với phần tài sản được chia sau khi trừ đi giá trị tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba là 5% x 380.160.000 đồng = 19.008.000 đồng (đã làm tròn số);

+ Một phần án phí ngang nhau đối với phần tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba là (72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 2.000.000.000 đồng) : 9 người, cụ thể: [72.000.000 đồng + (2% x (3.078.560.000 đồng – 2.000.000.000 đồng)] : 9 = 10.396.000 đồng (đã làm tròn số)

Tổng cộng, mỗi người phải nộp 19.008.000 đồng + 10.396.000 đồng = 29.404.000 đồng

Theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi thì bà Phạm Thị Bích H, ông Phạm Quang F, bà Phạm Thị Ng, bà Phạm Thị Minh N là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bà Ch, ông X được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 2 Điều 122; khoản 2 Điều 137; điểm c khoản 2 Điều 147; Điều 307; Điều 308; khoản 1 Điều 410; Điều 633; khoản 3 Điều 652; điểm d, đ khoản 1 Điều 653 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Căn cứ Điều 149; Điều 468; Điều 613; Điều 614; Điều 623; điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 218; khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Án lệ số 06/2016/AL-TA ngày 06-4-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố di chúc ngày 15-9-2011 của cụ Phạm Quang L vô hiệu; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo di chúc của ông Phạm Quang T.

2. Chia thừa kế của cụ Phạm Quang L theo pháp luật, cụ thể:

Bà Phạm Thị Bích H, ông Phạm Quang F, bà Phạm Thị Ng, bà Phạm Thị Minh N, ông Phạm Quốc Đ, bà Phạm Thị Bích E, ông Phạm Quang T, ông Phạm Quang M, bà Phạm Thị Thu H, mỗi người được hưởng thừa kế trị giá là 380.160.000 (ba trăm tám mươi triệu, một trăm sáu mươi nghìn) đồng.

3. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12-01-2010 và ngày 14-01-2010 giữa cụ Phạm Quang L với bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X vô hiệu

4. Giao ông Phạm Quang T được sở hữu quyền sử dụng đất diện tích 100m2 đất (đã trừ diện tích đất quy hoạch giao thông) của cụ Phạm Quang L được chia tại bản án số 29/PTHN ngày 20-9-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số 85 đường Đ, phường C, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (có sơ đồ kèm theo)

Tạm giao cho ông Phạm Quang T quản lý diện tích 101,4m2 đất còn lại (có sơ đồ kèm theo).

5. Ông Phạm Quang T có trách nhiệm:

+ Thanh toán cho bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X số tiền 3.078.560.000 (ba tỷ, không trăm bảy mươi tám triệu, năm trăm sáu mươi nghìn) đồng.

+ Thanh toán cho bà Phạm Thị Bích H, ông Phạm Quang F, bà Phạm Thị Ng, ông Phạm Quốc Đ, bà Phạm Thị Thu H, mỗi người với số tiền thừa kế là 380.160.000 (ba trăm tám mươi triệu, một trăm sáu mươi nghìn) đồng.

Thanh toán cho bà Phạm Thị Minh N: Số tiền thừa kế là 380.160.000 đồng + số tiền chênh lệch tài sản là 10.425.000 đồng, tổng cộng là 390.585.000 (ba trăm chín mươi triệu, năm trăm tám mươi năm nghìn) đồng; bà Phạm Thị Bích E: Số tiền thừa kế là 380.160.000 đồng + số tiền chênh lệch tài sản là 10.425.000 đồng, tổng cộng là 390.585.000 (ba trăm chín mươi triệu, năm trăm tám mươi năm nghìn) đồng; ông Phạm Quang M: Số tiền thừa kế là 380.160.000 đồng + số tiền chênh lệch tài sản là 10.425.000 đồng, tổng cộng là 390.585.000 (ba trăm chín mươi triệu, năm trăm tám mươi năm nghìn) đồng.

6. Giao cho ông Phạm Quang M tạm thời quản lý số tiền 380.160.000 (ba trăm tám mươi triệu, một trăm sáu mươi nghìn) đồng của ông Phạm Quang F được thừa kế, để sau này ông Phạm Quang F hoặc người thừa kế của ông Phạm Quang F có quyền hưởng theo quy định của pháp luật tố tụng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, những người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Quang T còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

7. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Phạm Quang T phải nộp 29.404.000 đồng, đối trừ số tiền 300.000 đồng ông Phạm Quang T đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0002962 ngày 05-6-2020 tại Chi cục thi hành án thành phố Nam Định thì ông Phạm Quang T còn phải nộp 29.104.000 (hai mươi chín triệu, một trăm lẻ bốn nghìn) đồng

- Ông Phạm Quang M phải nộp 29.404.000 đồng, đối trừ số tiền 5.000.000 đồng ông Phạm Quang M đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0003647 ngày 19-4-2021 tại Chi cục thi hành án thành phố Nam Định thì ông Phạm Quang M còn phải nộp 24.404.000 (hai mươi bốn triệu, bốn trăm lẻ bốn nghìn) đồng.

- Ông Phạm Quốc Đ, bà Phạm Thị Bích E, bà Phạm Thị Thu H, mỗi người phải nộp 29.404.000 (hai mươi chín triệu, bốn trăm lẻ bốn nghìn) đồng.

- Miễn án phí cho bà Phạm Thị Bích H, ông Phạm Quang F, bà Phạm Thị Ng, bà Phạm Thị Minh N.

- Bà Phạm Thị Ch và ông Cao Xuân X được nhận lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003637 ngày 13-4-2021 tại Chi cục thi hành án thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

8. Về quyền kháng cáo: Ông Phạm Quang T, bà Phạm Thị Ng, bà Phạm Thị Bích H, ông Phạm Quốc Đ, bà Phạm Thị Minh N, ông Phạm Quang M, bà Phạm Thị Thu H, anh Phạm Trường G, chị Phạm Thị Mỹ K, chị Phạm Thị Thu Q, chị Phạm Thị Hiền S, bà Phạm Thị Ch, ông Cao Xuân X có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà Phạm Thị Bích E, ông Phạm Quang F, ông Phạm Thanh R, bà Phạm Thị Thùy D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ