- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Bà Đỗ Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 190/2022/NQ-HĐND quy định một số nội dung, mức…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 36/2023/QĐST-DS | Nhà bè, ngày 28 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Việt Hồng – Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Thủy - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 190/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc Tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 244/2023/QĐST-DS ngày 13 tháng 03 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Đỗ Thị L - sinh năm 1981.
Địa chỉ: 26D21, khu phố A, phường B, thành phố C, tỉnh T.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu ngày 03/8/2022 bà L trình bày: Bà Đỗ Thị L và ông Trần Văn D - sinh năm 1972 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng K, huyện C, tỉnh T vào ngày 24/5/2002, trong quá trình sống chung có xảy ra mâu thuẫn vào năm 2008 và ông D bỏ nhà đi từ đó đến nay không có tung tích xác thực, đồng thời ông D không có liên lạc cho gia đình và người thân quen hay bạn bè của ông Dạn. Gia đình Bà Đỗ Thị L cố gắng đi tìm kiếm ông D đến nay không có tin tức.
Bà Đỗ Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Văn D - sinh năm 1972, có địa chỉ cuối cùng tại 908/5/12 tổ 8, ấp 5, xã A, huyện B, Thành phố H. Mục đích của bà L yêu cầu Tòa tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Văn D nhằm bổ túc hồ sơ ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về quan hệ pháp luật đương sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Căn cứ vào nội dung biên bản xác minh ngày 30/12/2022 của Công an xã Phú Xuân huyện Nhà Bè và Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số 190/2022/QĐ-CCTLCC ngày 24/10/2022 đối với ông Trần Văn D thì có cơ sở xác định nơi cư trú cuối cùng của ông D ở tại huyện Nhà Bè. Do đó, đây là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét việc bà L yêu cầu Tòa tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Văn D - sinh năm 1972, có địa chỉ cuối cùng tại 908/5/12 tổ 8, ấp 5, xã A, huyện B, Thành phố H.
Ông Trần Văn D và Bà Đỗ Thị L có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 40 quyển số 01 tại UBND xã Đồng K, huyện C, tỉnh T vào ngày 24/5/2002. Trong quá trình chung sống với nhau ông D và bà L có hai cháu Trần Tấn Dũng sinh ngày 03/8/2002 đã chết năm 2006 và cháu Trần Thanh Sơn sinh ngày 26/7/2007.
Vào khoảng năm 2008 bà L ông D mâu thuẫn gia đình thì ông D bỏ nhà đi biệt tích đến hôm nay đi đâu bà L không biết, ngoài ra không có tin tức về xác thực ông D còn sống hay chết và làm gì, ông D không có liên lạc cho gia đình và người thân quen hay bạn bè của ông Dạn. Tuy nhiên bà L có trình báo với chính quyền địa phương sự việc ông D mất tích tại địa phương cũng như bà L cố gắng đi tìm kiếm ông D đến nay không có tin tức. Nguyên nhân ông D bỏ nhà đi thì bà L cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn từ vợ chồng.
Căn cứ biên bản xác minh ngày 30/12/2022 của Công an xã Phú Xuân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, có cơ sở xác định thời điểm ông Trần Văn D bỏ nhà đi từ năm 2016 cho tới nay, thuộc trường hợp khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích; Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng”. Cho nên xác định thời hạn biệt tích ông D trên cơ sở là ngày 01 tháng 01 năm 1917. Đồng thời bà L đã đăng tin tìm ông Trần Văn D trên báo Công lý và Xã hội cơ quan của Tòa án nhân dân Tối Cao liên tiếp các ngày 18/10/2022, 21/10/2022, 25/10/2022 và phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam liên tiếp các ngày 20/10, 21/10, 22/10/2022 lúc 06h30 – 07h00 và từ 14h30 đến 15h00; Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý xác định việc biệt tích quá 02 năm liền mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết nên tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Văn D.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự.
Theo nội dung đơn yêu cầu của bà L xin tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Văn D nhằm bổ túc hồ sơ ly hôn. Căn cứ biên bản xác minh ngày 30/12/2022 của Công an xã Phú Xuân huyện Nhà Bè TPHCM thì ông D bỏ nhà đi biệt tích từ năm 2016 đến hôm nay nhưng vẫn không có tin tức, đã có đủ cơ sở pháp lý cho thấy ông D biệt tích quá 02 năm liền theo khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự. Đồng thời, mục đích yêu cầu của các đương sự là hoàn toàn chính đáng và phù hợp pháp luật nên nghĩ chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 361; Điều 362; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 385; Điều 387; Điều 388; Điều 389 Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
1. Chấp nhận yêu cầu của Bà Đỗ Thị L.
2. Tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Văn D - sinh năm 1972, nơi cư trú cuối cùng tại: 908/5/12 tổ 8, ấp 5, xã A, huyện B, Thành phố H kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Bà Đỗ Thị Lệ phải nộp là 300.000 đồng, được tính vào tiền tạm ứng lệ phí đã tạm nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2021/0038084 ngày 11/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè Thành Phố Hồ Chí Minh, Bà Đỗ Thị L đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định này. Riêng các người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp thì tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND huyện Nhà Bè; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè; - Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã A, huyện B, Thành phố H - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Việt Hồng |