vanban.org

Bản án 36/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 22/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chu Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 của BLTTHS: Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức trả lại 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11B1 - 188.61 cho bà Triệu Mùi K.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY ĐỨC
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 36/2023/HS-ST
Ngày: 22 - 9 - 2023

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Văn Phiếm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Kim Loan và ông Phạm Thiên Viết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thảo Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Chu Văn B, sinh năm 1995, tại tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: Bon Bu Dơng, xã Đắk R’Tíh, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Minh Đ, sinh năm 1961 và bà Bàn Thị B1 (đã chết); có vợ là Triệu Mùi V, sinh năm 2004 và 01 con, sinh năm 2022; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/6/2023 sau đó chuyển tạm giam đến nay - có mặt.

Người có quyền lợi, và nghĩa vụ liên quan: Bà Triệu Mùi K, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Bon Bu Dơng, xã Đắk R’Tíh, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 08/6/2023, Chu Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Blade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11B1- 188.xx từ nhà của mình vào xã ĐN để mua ma túy về sử dụng. Trên đường đi, B mua 02 kim tiêm ở hiệu thuốc tây, mục đích sau khi mua được ma túy sẽ sử dụng. Khi đến bản N, B gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ nhân thân lai lịch) đang đi bộ trên đường nên dừng xe và hỏi nhờ mua ma túy thì người này đồng ý nên B đưa số tiền 500.000 đồng. Người đàn ông cầm tiền rồi đi vào trong bản Ninh Hòa, khoảng 15 phút sauthì người đàn ông đó quay lại, đưa cho B 01 gói giấy màu trắng, có in chữ “BIBRAUN” bên trong có chứa ma túy. Sau đó, B lấy một ít ma túy ra để sử dụng tại vườn điều gần đó; số ma túy còn lại, gói vào trong tờ giấy màu trắng trước đó và cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc bản N, xã ĐN thì bị Công an xã ĐN phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức bắt quả tang.

Vật chứng đã thu giữ gồm: 01 gói giấy màu trắng, một mặt có in chữ “BIBRAUN”, bên trong có chứa chất rắn màu trắng là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,2435 gam; 01 kim tiêm đã qua sử dụng, 01 kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Blade, màu đỏ đen, BKS 11B1- 188.xx.

Tại bản kết luận giám định số 219/KL-KTHS ngày 13/6/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng được đựng trong gói giấy màu trắng, một mặt ghi chữ “BIBRAUN” thu giữ tại thời điểm bắt quả tang của Chu Văn B ngày 08/6/2023, là ma túy, loại Heroine, có khối lượng mẫu là 0,2435 gam (Hoàn lại sau giám định là 0,2133 gam).

Tại Bản cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đã truy tố bị cáo Chu Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38của BLHS, xử phạt bị cáo Chu Văn B từ 1 năm 6 thánh đến 2 năm

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của BLHS;điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), đề nghị: Tịch thu, tiêu huỷ 0,2133 gam ma tuý là Heroine (hoàn lại sau giám định); 01 kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 kim tiêm đã qua sử dụng. Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức trả lại 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11B1 - 188.61 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Triệu Mùi K do không liên quan đến việc phạm tội.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không trình bày lời bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 08/6/2023, tại đoạn đường bê tông thuộc bản N, xã ĐN, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, Công an xã ĐN phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức bắt quả tang Chu Văn B đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2435 gam ma túy là Heroine, mục đích để sử dụng.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) … Heroin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…”.

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Chu Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về việc cất giữ chất ma tuý; làm mất trật tự an ninh tại địa phương, gây nhiều hậu quả xấu cho bản thân, gia đình và xã hội. Vì vậy, bị cáo Chu Văn B phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

[4]Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Chu Văn B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS; HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[7] Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đề nghị mức án đối với bị cáo Chu Văn B là phù hợp, cần chấp nhận.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Chu Văn B.

[9] Về vật chứng của vụ án:

[9.1] Đối với 0,2133 gam ma tuý, là Heroine (hoàn lại sau giám định); 01 kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 kim tiêm đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

[9.2] Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11B1 - 188.61qua điều tra xác định chiếc xe trên là của bà Triệu Mùi K. Ngày 08/6/2023 B mượn chiếc xe trên để đi công việc sau đó đi mua ma túy; việc B sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy về sử dụng thì bà K không biết và B cũng không nói cho bà K biết. Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức đã trả lại chiếc xe trên cho bà K là phù hợp cần cấp nhận.

[10] Đối với người thanh niên (không xác định được nhân thân lai lịch) đã mua ma tuý cho B, do không có thông tin để xác minh nên không đề cập xử lý theo quy định.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Chu Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Chu Văn B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 08/6/2023.

2.Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 của BLTTHS:

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức trả lại 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11B1 - 188.61 cho bà Triệu Mùi K.

Tịch thu, tiêu huỷ 0,2133 gam ma túy, là Heroine (hoàn lại sau giám định); 01 kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 kim tiêm đã qua sử dụng.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức).

3.Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Chu Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ