- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Kim Vũ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đổ Kim V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự - Tịch thu; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BÌNHÑAÏI,TÆNH BEÁN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HSST Ngày: 07-9-2023 |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BÌNH ÑAÏI, TÆNH BEÁN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Thái Hùng
2. Ông Võ Minh Quang
- Thư ký phiên Tòa: Ông Bùi Thái Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân– Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2023/HSST ngày 31 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2023, vụ án được xét xử công khai, trực tuyến:
- Điểm cầu trung tâm đặt tại: Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Đối với bị cáo:
ĐỔ KIM V, sinh ngày: 20/11/1988 tại tỉnh Bến Tre.
Nơi đăng ký thường trú và sinh sống hiện nay: Khu phố 3, thị trấn B, huyện Đ, tỉnh T.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đổ Kim RT và bà Ngô Thị T; Vợ: Nguyễn Thị Băng H, sinh năm: 1989 (Đã ly hôn); Con: Có 01 người con, sinh năm: 2018.
- Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2023 cho đến nay (Có mặt).
- Người chứng kiến:
1. Trang Văn L, sinh năm: 1981 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp 3, xã B, huyện Đ, tỉnh T.
2. Phạm Quang M, sinh năm: 1984 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp 3, xã B, huyện Đ, tỉnh T.
Ngưòi tiến hành tố tụng khác có mặt tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Đại:
- Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như - Thư ký Tòa án
- Ông Nguyễn Thanh Tuấn- Kiểm sát viên
Ngưòi tham gia tố tụng khác có mặt tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Đại: Lực lượng hổ trợ tư pháp và bảo vệ phiên tòa:
1. Thiếu úy Nguyễn Chí Bảo – Tổ trưởng.
2. Chiến sỹ Nguyễn Nhật Trường – Tổ viên.
-
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 20 phút ngày 30/5/2023, Đổ Kim V điều khiển xe mô tô biển số 60F1-750.56 lưu thông trên đường hẻm, thuộc ấp 3, xã B, huyện Đ, tỉnh T thì bị Đồn biên phòng Cửa Đại phối hợp với Công an xã Bình Thắng tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của V có 02 gói nylon màu trắng, được hàn kín 04 phía, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Cơ quan chức năng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng có liên quan.
Tang vật thu giữ gồm:
- 02 gói nylon màu trắng hàn kín 04 phía, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy.
- 01 xe mô tô biển số 60F1-750.56, nhãn hiệu HONDA, loại VISION, màu xanh, đã qua sử dụng, trầy xước nhiều nơi.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO, loại cảm ứng, màu xanh đã qua sử dụng, có số IMIE1: 860621057270318, IMIE2: 860621057270300.
- 02 đoạn ống hút nhựa màu tím và màu cam, mỗi đoạn dài 27cm.
- 01 ống thủy tinh, 01 đầu thẳng dài 07cm, đường kính 0,5cm, đầu hình phễu dài 04cm.
Qua điều tra, Đổ Kim V khai số ma túy trên là do V mua của một người đàn ông, không rõ lai lịch ở thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 19/5/2023 với số tiền 500.000 đồng. Mục đích mua là để dành sử dụng. Ngày 30/5/2023 V lấy 02 gói ma túy bỏ vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe đi đến nhà một người bạn để chơi, trên đường đi đến đường hẻm thuộc ấp 3, xã B thì bị kiểm tra và bắt quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 387/2023/KL-KTHS ngày 30/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 gói nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,0464 gam. Quá trình điều tra, bị cáo Đổ Kim V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 16/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Đại đã trả lại xe mô tô biển số 60F1-750.56, nhãn hiệu HONDA, loại VISION, màu xanh, đã qua sử dụng, trầy xước nhiều nơi cho ông Nguyễn Ngọc Đại D, sinh năm: 1967, nơi cư trú: Tổ 7, khu phố 1 Bình Đa, thành phố B, tỉnh Đ là chủ sở hữu hợp pháp của xe. Xe ông D cho Nguyễn Thị Thùy L (Bạn gái bị cáo V) sử dụng. Ngày 30/5/2023 bị cáo V mượn xe của L để đi đến nhà bạn chơi, xe không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo V.
Tại Bản Cáo trạng số 37/CT-VKSBĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại đã truy tố bị cáo Đổ Kim V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo Đổ Kim V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại đã truy tố và vật chứng đã thu thập. Bị cáo đồng ý với Kết luận giám định, các hành vi và quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Kiểm sát viên tham gia phiên Tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đổ Kim Vvà đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như sau:
- Về tội danh và hình phạt chính:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đổ Kim V mức án từ 15 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2023.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy:
+ 01 phong bì niêm phong số 387/2023 bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,9387 gam (còn lại sau giám định), bên ngoài có chữ ký ghi tên Phan Trung Trực, Trần Văn Nhờ và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bến Tre.
+ 02 đoạn ống hút nhựa màu tím và màu cam, mỗi đoạn dài 27cm.
+ 01 ống thủy tinh, 01 đầu thẳng dài 07cm, đường kính 0,5cm, đầu hình phễu dài 04cm.
- Trả lại cho bị cáo:
01 điện thoại di động hiệu OPPO, loại cảm ứng, màu xanh đã qua sử dụng, có số IMIE1: 860621057270318, IMIE2: 860621057270300.
- Đối với người đàn ông ở Thành phố Hồ Chí Minh có bán ma túy cho bị cáo V, do không xác định được địa chỉ, nhân thân cụ thể của người này nên chưa có cơ sở để xem xét xử lý, khi nào điều tra làm rõ được, sẽ tiến hành xử lý sau.
Bị cáo nói lời sau cùng:
- Bị cáo Đổ Kim V: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa đổi trở thành người tốt, giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Bình Đại, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Những người chứng kiến vắng mặt tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến gì, Kiểm sát viên đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt những người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng ở Cơ quan điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người chứng kiến là phù hợp quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên Tòa, bị cáo Đổ Kim V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 30/5/2023, Kết luận giám định 387/2023/KL-KTHS ngày 30/5/2023, phù hợp với tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Đã đủ sơ sở xác định: Bị cáo Đổ Kim V lúc 12 giờ 20 phút ngày 30/5/2023 tại đường hẻm, thuộc ấp 3, xã B, huyện Đ, tỉnh T, đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 1,0464 gam với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Do đó, bị cáo Đổ Kim V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 37/CT-VKSBĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại đã truy tố bị cáo Đổ Kim V là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Đổ Kim V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, vi phạm vào những điều cấm của Luật phòng, chống ma túy. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để nhận biết ma túy có hại cho sức khỏe, việc lưu giữ, tàng trữ các chất ma túy trái pháp luật sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện của mình, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bị cáo gây ra.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cá nhân.
Về nhân thân: Bị cáo Đổ Kim V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đổ Kim V có các tình tiết giảm nhẹ được hưởng là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và gia đình có công với cách mạng: cha ruột từng tham gia nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, được Hội đồng Nhà nước Campuchia tặng huân chương bảo vệ Tổ quốc, cậu ruột từng tham gia chiến trường Campuchia, được Hội đồng Nhà nước Campuchia tặng huân chương chiến công, huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 3. Ngoài ra, bị cáo V là bộ đội xuất ngũ được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả và hành vi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã xội. Xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống. Mặc khác còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy:
+ 01 phong bì niêm phong số 387/2023 bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,9387 gam (còn lại sau giám định), bên ngoài có chữ ký ghi tên Phan Trung Trực, Trần Văn Nhờ và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bến Tre.
+ 02 đoạn ống hút nhựa màu tím và màu cam, mỗi đoạn dài 27cm.
+ 01 ống thủy tinh, 01 đầu thẳng dài 07cm, đường kính 0,5cm, đầu hình phễu dài 04cm.
Đây là vật chứng không có giá trị sử dụng, là chất ma túy bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
- Trả lại cho bị cáo:
01 điện thoại di động hiệu OPPO, loại cảm ứng, màu xanh đã qua sử dụng, có số IMIE1: 860621057270318, IMIE2: 860621057270300.
Vì đây là tài sản của bị cáo, không có liên quan đến hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo.
Đối với ông Nguyễn Ngọc Đại D là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô biển số 60F1-750.56, nhãn hiệu HONDA, loại VISION, màu xanh, đã qua sử dụng, trầy xước nhiều nơi cho Nguyễn Thị Thùy L (Bạn gái bị cáo V) sử dụng, bị cáo V mượn xe của L để đi đến nhà bạn chơi, ông D và chị L không biết bị cáo V dùng xe mô tô để tàng trữ ma túy nên không xem xét xử lý hành vi là phù hợp quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Ngọc Đại D đã nhận lại xe.
Đối với người đàn ông ở Thành phố Hồ Chí Minh có bán ma túy cho bị cáo V, do không xác định được địa chỉ, nhân thân cụ thể của người này nên chưa có cơ sở để xem xét xử lý, khi nào điều tra làm rõ được, sẽ tiến hành xử lý sau.
Lời phát biểu luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên Tòa sơ thẩm về tội danh đối với bị cáo V, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo V là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đổ Kim V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đổ Kim V 15 (Mười lăm) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
- Tịch thu, tiêu hủy:
+ 01 phong bì niêm phong số 387/2023 bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,9387 gam (còn lại sau giám định), bên ngoài có chữ ký ghi tên Phan Trung Trực, Trần Văn Nhờ và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bến Tre.
+ 02 đoạn ống hút nhựa màu tím và màu cam, mỗi đoạn dài 27cm.
+ 01 ống thủy tinh, 01 đầu thẳng dài 07cm, đường kính 0,5cm, đầu hình phễu dài 04cm.
- Trả lại cho bị cáo:
01 điện thoại di động hiệu OPPO, loại cảm ứng, màu xanh đã qua sử dụng, có số IMIE1: 860621057270318, IMIE2: 860621057270300.
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/8/2023 hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tình Bến Tre đang quản lý).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đổ Kim V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền và thời hạn kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - Sở tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - Nhà tạm giữ công an huyện Bình Đại (1b) - VKSND huyện Bình Đại (1b); - Chi cục THA dân sự huyện Bình Đại (1b); - Cơ quan điều tra công an huyện Bình Đại (1b); - Đội ma túy công an huyện Bình Đại (1b); - Bị cáo (1b); - Bộ phận thi hành án hình sự (3b); - Tòa hình sự (1b); - Lưu hồ sơ vụ án và văn phòng (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hồng Phương |