- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HS-ST Ngày 25 tháng 4 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Mạnh Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Duy Chung
2. Ông Phạm Tiến Hào
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Doanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2023/TLST-HS, ngày 06 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Lương Văn T, sinh ngày 01/5/2002, tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện Y, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn N, sinh năm 1976 và bà Lý Thị M, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lương Thị N, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện Y, tỉnh T;
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lương Thị N: Chị Vi Thị T, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện Y, tỉnh T. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa liên quan:
1. Ông Lương Văn Ngọc, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện Y, tỉnh T. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Chị Trần Kim T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện Y, tỉnh T. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 12/11/2022, Lương Văn T trú tại thôn H, xã C, huyện Y (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 22B2 - 620.04 theo tuyến đường ĐH 04, đi từ hướng thôn Đèo Hoa, xã C, huyện Yên Sơn ra xã Trung Môn, huyện Yên Sơn đến đoạn đường vòng cua sang phải thuộc thôn Trường Sơn, xã C, huyện Yên Sơn, T điều khiển xe môtô đi ở giữa đường với tốc độ khoảng 60 km/h, khi vào cua lấn sang phần đường ngược chiều và không chú ý quan sát, đi không đúng phần đường đâm vào xe môtô nhãn hiệu Honda WaveS, biển số 22F1 - 134.42 do Vi Văn C trú tại Thôn K, xã C, huyện Y, tỉnh T điều khiển đi ngược chiều (xe Trần Văn Đội mượn của chị Trần Kim Tđến nhà Công chơi dựng ở sân và không rút chìa khóa xe, nên Công tự ý lấy xe đi). Sau khi va chạm, Lương Văn T và Vi Văn C bị ngã xuống đường. Hậu quả Lương Văn T và Vi Văn C bị thương được mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa Phương Bắc tỉnh Tuyên Quang điều trị. Hồi 21 giờ 20 phút cùng ngày Công chết.
Kết quả khám nghiệm hiện trường hồi 22 giờ 30 phút ngày 12 tháng 11 năm 2022, tại thôn T, xã C, huyện Yên Sơn (khám nghiệm theo hướng Chân Sơn đi Trung Môn) xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường nhựa, cong cua sang phải (lòng đường rộng 4m) thuộc thôn Trường Sơn, xã C, huyện Yên Sơn như sau:
Vị trí số 1 là vết dầu bám dính trên mặt đường, có kích thước (80 x 55)cm, điểm đầu vết 1 cách mép đường bên phải 368 cm, điểm cuối cách mép đường phải 383cm.
Vị trí số 2 là vết cày xước trên mặt đường, có kích thước (70 x 1,2) cm chếch chéo từ lòng đường ra lề đường trái, điểm đầu vết cách tâm điểm đầu vết 1 là 55cm về hướng đi Chân Sơn, điểm đầu vết 2 cách mép đường phải 395cm, điểm cuối vết 2 cách mép đường phải 423 cm.
Vị trí số 3 là xe môtô, biển số 22F1 - 134.42 đổ nghiêng bên phải đầu xe quay hướng ra lề đường, đuôi xe quay hướng ra hướng tâm đường, trục trước bên trái xe cách tâm đầu vết 1 về hướng lề đường bên trái là 110cm, cách mép đường phải 460cm. Trục bánh sau bên trái xe cách mép đường phải 385cm.
Vị trí số 6 là xe môtô biển số 22 B2 - 620.04, nằm đổ nghiêng bên phải trên mặt đường, đầu xe quay hướng lề đường trái, đuôi xe chếch chéo hướng vào lề đường phải. Trục bánh trước bên phải xe cách mép đường phải 250cm, Trục bánh sau bên phải xe cách mép đường phải 186cm, cách tâm đầu vết 1 là 613cm.
Vị trí số 7 là vùng dấu vết máu kích thước (16 x 17)cm, bám dính trên cây cỏ phía ngoài lề đường bên trái. Tâm vùng vết máu cách tâm đầu vết 1 về hướng đi Chân Sơn là 423 cm, cách mép phải đường 640cm.
Vị trí số 8 là dấu vết máu trên mặt đường kích thước (40 x 60)cm. Tâm vết cách tâm đầu vết 1 về hướng Chân Sơn là 575cm, cách mép đường phải là 323cm.
Tại Kết luận giám định số 1380 ngày 17/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận mẫu máu của Vi Văn C gửi giám định có cồn (Ethanol). Nồng độ cồn trong mẫu gửi giám định là 70,656mg/100ml.
Tại Kết luận giám định số 1379 ngày 18/11/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Dấu vết trên các mẫu ký hiệu A1, A2 gửi giám định là máu người.
- Máu của tử thi Vi Văn C (ký hiệu M1) thuộc nhóm máu B.
- Máu của Lương Văn T (ký hiệu M2) thuộc nhóm máu 0.
Tại Kết luận giám định pháp y số 1378 ngày 15/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định, Vùng mặt, cổ, ngực, hai tay, hai chân có các vết sưng nề, bầm tím, sây sát, rách mất da. Chấn thương gẫy kín 1/3 dưới hai xương cẳng chân trái. Chấn thương sọ mặt: Nửa mặt trái biến dạng, sập lún về phía sau. Xương trán bên trái, xương hốc mắt trái, cung tiếp xương gò mà trái, xương gò má trái gẫy lún về phía sau. Nhãn cầu trái lỏng lẻo không vỡ. Nguyên nhân chết của Vi Văn C, do chấn thương sọ mặt.
Tại Kết luận giám định số 11 ngày 09/01/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang:
1. Vết vỡ khuyết mất kim loại, lõm kim loại phía trong ở đầu dưới càng trước bên trái xe môtô biển số 22F1 - 134.42 hình thành do va chạm với vết vỡ khuyết kim loại, trượt xước ở phía trước bưởng máy bên trái xe môtô biển số 22B2 - 620.04 là phù hợp.
2. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe môtô biển số 22F1 - 134.42 với xe môtô biển số 22B2 - 620.04 trên hiện trường tại phía trước vết cày xước trên mặt đường (vị trí số 2 trong biên bản khám nghiệm hiện trường) là phù hợp.
3. Tại thời điểm xẩy ra va chạm xe môtô biển số 22F1 - 134.42 và xe môtô biển số 22B2 - 620.04 di chuyển ngược chiều nhau là phù hợp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 06 ngày 03/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Sơn, kết luận:
Tổng tài sản phụ tùng thay thế và công sửa chữa xe môtô nhãn hiệu Honda WaveS, là 748.444 đồng (Bảy trăm bốn tám nghìn bốn trăm bốn bốn đồng).
Tổng tài sản phụ tùng thay thế và công sửa chữa xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, là 2.321.139 đồng (Hai triệu ba trăm hai mốt nghìn một trăm ba chín đồng).
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám phương tiện, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số: 33/CT-VKSYS ngày 05/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn truy tố Lương Văn T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong bản cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS:
+ Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
+ Xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS đối với bị cáo.
Ngoài ra đề nghị HĐXX xem xét buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà, không tranh luận gì thêm. Thừa nhận hành vi phạm tội của mình; nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Vi Văn C là bà Lương Thị N và người đại diện theo ủy quyền của bà N là chị Vi Thị T trình bày: Ngày 12/11/2022 bị cáo Lương Văn T có hành vi điều khiển xe môtô, do không chú ý quan sát, đi không đúng phần đường nên đã va chạm với xe môtô do anh Vi Văn C điều khiển đi ngược chiều, dẫn đến tai nạn, hậu quả anh Vi Văn C chết; về trách nhiệm dân sự, quá trình điều tra gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình tổng số tiền 160.000.000 đồng, gia đình đã nhận đầy đủ số tiền trên, nay không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; về trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Kim Ttrình bày: Chị là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, biển số 22F1 - 134.42, ngày 12/11/2022 anh Vi Văn C điều khiển chiếc xe mô tô trên và va chạm với xe mô tô do bị cáo T điều khiển, khiến xe mô tô bị hư hỏng; tại giai đoạn điều tra gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình chị tiền sửa xe là 5.000.000 đồng, chị đã nhận đủ tiền và nhận lại xe mô tô, nay chị không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn Ngọc trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo T, ngày 12/11/2022 bị cáo T điều khiển xe mô tô va chạm với xe mô tô do anh Vi Văn C điều khiển, hậu quả anh C chết; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tác động nhờ ông bồi thường hộ, ông đã thay mặt bị cáo T bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 160.000.000 đồng, bồi thường tiền sửa xe cho chị Thoa số tiền 5.000.000 đồng; ông xác định số tiền bồi thường là tiền của ông, nhưng do bị cáo sống cùng ông nên ông không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về xem xét hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, các kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Tuy lời khai của bị cáo không thể hiện việc xe mô tô bị cáo điều khiển va chạm với xe mô tô do bị hại Vi Văn C điều khiển như thế nào (do bị cáo không kịp quan sát lúc va chạm và bị ngấts sau khi va chạm), nhưng căn cứ vào Kết luận giám định số 11 ngày 09/01/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang đã thể hiện rõ: Vết vỡ khuyết mất kim loại, lõm kim loại phía trong ở đầu dưới càng trước bên trái xe môtô biển số 22F1 - 134.42 hình thành do va chạm với vết vỡ khuyết kim loại, trượt xước ở phía trước bưởng máy bên trái xe môtô biển số 22B2 - 620.04 là phù hợp; Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe môtô biển số 22F1 - 134.42 với xe môtô biển số 22B2 - 620.04 trên hiện trường tại phía trước vết cày xước trên mặt đường (vị trí số 2 trong biên bản khám nghiệm hiện trường) là phù hợp; Tại thời điểm xẩy ra va chạm xe môtô biển số 22F1 - 134.42 và xe môtô biển số 22B2 - 620.04 di chuyển ngược chiều nhau là phù hợp.
Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 12/11/2022, Lương Văn T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 22B2 - 620.04 (có giấy phép lái xe theo quy định) theo hướng thôn Đèo Hoa, xã C, huyện Yên Sơn ra xã Trung Môn, huyện Yên Sơn đến đoạn đường cong cua sang phải thuộc thôn Trường Sơn, xã C, huyện Yên Sơn, do không chú ý quan sát, đi không đúng phần đường đã đâm vào xe môtô nhãn hiệu Honda WaveS, biển số 22F1 - 134.42 do anh Vi Văn C điều khiển đi ngược chiều, gây tai nạn, hậu quả anh Vi Văn C chết.
Trong vụ án này, nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn khiến bị hại Vi Văn C chết là do bị cáo điều khiển xe mô đi không đúng phần đường, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chết 01 người nên hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự, như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ dẫn đến gây thiệt hại về tính mạng, tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ, bản thân bị cáo mặc dù đã được đào tạo cấp giấy phép lái xe phù hợp với loại phương tiện điều khiển nhưng do chủ quan, không chấp hành các quy định về luật giao thông, không chú ý quan sát, điều khiển xe đi không đúng phần đường dẫn đến xảy ra tai nạn là vi phạm pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, không mong muốn hậu quả chết người xảy ra; bị cáo điều khiển xe vào ban đêm nên hạn chế một phần tầm nhìn nên mới xảy ra tai nạn.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại giai đoạn điều tra bị cáo đã tác động nhờ bố đẻ bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại Vi Văn C; tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xin cho bị cáo được cải tạo tại địa phương nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo phạm tội do lỗi vô ý không mong muốn hậu quả chết người xảy ra; bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; đại diện bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương; bị hại đồng thời cũng là anh em trong gia đình của bị cáo; sau khi xảy ra tai nạn bị cáo cũng bị thương tích phải đi điều trị chưa hồi phục hoàn toàn; bị cáo có đơn xin được hưởng án treo; như vậy, bị cáo có đầy đủ các điều kiện và đảm bảo các quy định về án treo theo quy định tại Điều 65 của BLHS và Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHSS về án treo, nên xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ điều kiện răn đe, giáo dục đối với bị cáo, cũng như thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp.
. Về vật chứng vụ án: Đối với 01 xe môtô nhãn hiện Honda WaveS, biển số 22F1 - 134.42; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc mang tên Trần Kim T, ngày 17/01/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chị Trần Kim T. Đối với 01 giấy phép lái xe của Vi Văn C, ngày 17/01/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho người đại diện là chị Vi Thị T. Đối với 01 xe môtô nhãn hiện Yamaha Exciter, biển số 22B2 - 620.04; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, ngày 17/01/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho Lương Văn T. Đối với 01 Giấy phép lái xe số: 080213001597 mang tên Lương Văn T, ngày 25/4/2023 Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn đã trả lại cho bị cáo T nên HĐXX không xem xét giải quyết.
. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động nhờ gia đình bồi thường cho đại diện gia đình của bị hại Vi Văn C tổng số tiền 160.000.000 đồng; bồi thường tiền sửa xe cho chị Trần Kim Tsố tiền 5.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại và người đại diện theo ủy quyền xác nhận đã nhận đủ tiền bồi thường, nay đại diện gia đình và chị Thoa không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; ông Lương Văn Ngọc được bị cáo tác động nhờ bồi thường cho gia đình bị hại và chị Thoa tổng số tiền 165.000.000 đồng, tại phiên tòa ông Ngọc không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền trên, nên HĐXX không xem xét giải quyết về phần bồi thường dân sự.
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Về vấn đề khác: Đối với Vi Văn C khi điều khiển xe môtô khi tham gia giao thông trong máu có nồng độ cồn vượt quá quy định, nhưng do Vi Văn C đã chết nên không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo Lương Văn T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/4/2023).
Giao bị cáo Lương Văn T cho UBND xã C, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lương Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Phòng HSNV CA tỉnh Tuyên Quang; - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Yên Sơn; - Cơ quan CSĐT CA huyện Yên Sơn; - Cơ quan THAHS CA huyện Yên Sơn; - Chi cục THADS huyện Yên Sơn; - UBND xã C; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Duy Chung Phạm Tiến Hào THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Duy Chung Nguyễn Hùng Minh | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Mạnh Hồng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Mạnh Hồng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Mạnh Hồng |