- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phàng A M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phàng A M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HS-ST. Ngày: 22 - 02 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bàn Thị Xuân
Ông Mùi Văn Hoạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thu Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Vì Thị Dung – Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Sơn La
- Thư ký Tòa án: Ông Bàn Văn Sơn
- Kiểm sát viên: Ông Bàn Văn Sơn
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2023/TLST- ST ngày 08 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Phàng A M; tên gọi khác: Không, sinh năm 1973, sinh tại huyện B, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản T, xã Ch, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phàng A Tr, sinh năm 1933 và bà Thào Thị S, sinh năm 1934; bị cáo có vợ là Mùa Thị D, sinh năm 1974 và 02 con; con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992; tiền án: Không; tiền sự : Không.
Nhân thân: Ngày 26/9/2019, Phàng A M bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Phàng A M đã thi hành xong khoản án phí ngày 19/11/2019 và chấp hành xong án phạt tù ngày 11/10/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 16/11/2022 cho đến nay. Tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 16/11/2022, Phàng A M một mình đi bộ từ nhà tại Bản T lên bản Sa L, xã Ch để tìm M ma túy về sử dụng, khi đi đến bản Sa L, M gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 40 tuổi (M không quen biết) hỏi và mua được của người phụ nữ này 02 viên Hồng phiến với giá 40.000 đồng được gói bằng 02 mảnh nilon màu trắng riêng biệt. Sau khi mua được 02 viên Hồng phiến, M đi bộ vào một bụi cây ven đường rồi mở một gói nilon màu trắng đựng một viên hồng phiến ra một mình sử dụng hết. Sau khi sử dụng xong M cầm viên hồng phiến còn lại trong lòng bàn tay trái và đi lên bộ về nhà. Khi về đến khu vực bản S, xã Ch thì gặp tổ công tác Công an xã Ch, huyện V đang làm nhiệm vụ phát hiện và bắt quả tang. Lúc này Phàng A M đã tự giác lấy gói nilon màu trắng bên trong đựng 01 viên nén màu hồng, trên bề mặt viên nén đều có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp mà M đang cầm ở lòng bàn tay trái giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là viên Hồng phiến M vừa mua được để mang về sử dụng cho bản thân. Căn cứ vào hành vi vi phạm của M, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với M, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định và dẫn giải M đến Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra làm rõ.
Ngày 16/11/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện V và Viện kiểm sát nhân dân huyện V cùng phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng 01 viên nén màu hồng thu giữ của Phàng A M được khối lượng 0,116 gam, lấy 0,116 gam làm mẫu giám định ký hiệu M bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.
Kết luận giám định số: 1729 ngày 17/11/2022 của phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,116 gam.
Tổng khối lượng chất ma tuý thu giữ là 0,116 gam; loại Methamphetamine.
Kèm theo kết luận giám định: Không có tài liệu kèm theo.
Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định./.”
Cáo trạng số: 13/CT-VKS ngày 07/02/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Phàng A M về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Phàng A M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Phàng A M từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự :
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu đã bóc mở + Vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong đựng que thử ma túy đối với Phàng A M.
Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận rội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 16/11/2022, Phàng A M đã có hành vi cất giấu trái phép 0,116 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phàng A M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bản thân đã bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tuy được xóa án tích nhưng là người có nhân thân xấu. Vì vậy, cần áp dụng mức án nghiêm khắc tương sứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo Phàng A M đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu đã bóc mở + Vỏ gói ban đầu và 01 phong bì niêm phong đựng que thử ma túy đối với Phàng A M là những vật không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc chất ma túy: Phàng A M khai nhận M của người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi không quen biết tại đường dân sinh bản S, xã Ch, huyện V, tỉnh Sơn La vào ngày 16/11/2022, do M không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của người phụ nữ này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ để điều tra xử lý. Buộc Phàng A M phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Phàng A M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Phàng A M 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu đã bóc mở + Vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong đựng que thử ma túy đối với Phàng A M.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 45/BBVC-CCTHA ngày 09/02/2023.
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; Tỉnh; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |