vanban.org

Bản án 36/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 23/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/8/2023). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh H phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HS-ST
Ngày 23-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nông Ngọc Ánh;

Bà Chu Thị Xuyến.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mai Hương- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không có, Sinh ngày: 10 tháng 10 năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã N, huyện K, tỉnh H. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn U; Con bà: Đồng Thị L; Vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1989; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Chưa có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/5/2023 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1992, trú tại: Thôn N, xã M, thành phố L, tỉnh Ln (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Chị Đỗ Kim N, sinh năm 1991; trú tại: Thôn N, xã M, thành phố L, tỉnh L (vợ bị hại), có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Vương Văn D, sinh năm 1979; Trú tại: Thôn T, xã M, thành phố L, tỉnh L, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Đàm Chí C, sinh năm 1985, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định tiếp nhận tin báo từ quần chúng nhân dân về vụ việc Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra tại Km 53 + 147 Quốc lộ 4A thuộc địa phận thôn Khuổi Sao, xã Chi Lăng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể: Xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, màu sơn bạc, BKS 12A-094.65 do Nguyễn Văn T điều khiển, ngồi ở ghế phụ có Ngô Văn Đ đi theo hướng Lạng Sơn - Cao Bằng bị mất lái, lao xuống mương nước của ta luy âm dẫn đến xe ô tô bị lật ngửa. Hậu quả: Ngô Văn Đ tử vong, xe ô tô hư hỏng nhẹ.

Quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định đã làm rõ toàn bộ nội dung vụ việc như sau: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 02/02/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, màu sơn bạc, BKS: 12A-094.65 trên xe có Ngô Văn Đ ngồi ghế phụ đi từ thành phố Lạng Sơn để lên cửa khẩu Tà Lùng, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng để sửa kho lạnh. Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, khi đi đến Km 53+147 Quốc lộ 4A, thuộc địa phận thôn Khuổi Sao, xã Chi Lăng, huyện Tràng Định do đoạn đường cong cua, trời mưa phùn, đường trơn. Do không quen đường và vào cua ở tốc độ cao, T đã đạp mạnh chân phanh khiến phần đuôi xe bị rê trượt sang bên phải, T không làm chủ được tay lái làm xe ô tô vòng ngang đường phần đầu xe đâm vào cột hộ lan mép đường bên trái theo hướng Lạng Sơn - Cao Bằng rồi văng lao xuống mương nước ta luy âm dẫn đến xe ô tô bị lật ngửa, nước chảy vào trong xe. Khi đó, anh Đàm Chí C phát hiện đã xuống cứu giúp và kéo được T từ trong xe qua cửa kính lái ra ngoài, còn Ngô Văn Đ do không kịp cứu ra ngoài nên đã tử vong.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 241/GĐPY-PC09, ngày 06/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận nguyên nhân Ngô Văn Đ chết là do: “Ngạt nước”.

Sau khi xảy ra sự việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định đã phối hợp với cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông tại Km 53 + 147 Quốc lộ 4A, thuộc địa phận thôn Khuổi Sao, xã Chi Lăng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn là đoạn đường cong cua, hướng dốc xuống hướng Lạng Sơn - Cao Bằng, mặt đường rải bê tông xi măng. Bên trái hướng Lạng Sơn - Cao Bằng có một mương nước rộng 5,50m, sâu 0,60m, có bờ đất đến mặt đường cao 6,60m, lề đất rộng 0,70m có nhiều cọc hộ lan, mặt đường nơi xảy ra tai nạn có chiều rộng 6,30m. Lề đất bên phải hướng Lạng Sơn - Cao Bằng rộng 0,60m, rãnh thoát nước rộng 1,25m, sâu 0,30m. Hiện trường được mô tả theo hướng Lạng Sơn - Cao Bằng, tất cả các dấu vết đều được đo về mép đường bên phải, lấy cột Km 53 + 100, Quốc lộ 4A làm mốc cố định đến đầu vết (1) là 47,60m và được đánh số thứ tự từ (1) đến (3), cụ thể: (1) Vết mài trượt: Nằm nguyên vẹn tại hiện trường, sát mép đường lề đất, bờ đất bên phải hướng Cao Bằng - Lạng Sơn, có diện 10,20m x 2,00m đầu vết có hướng Lạng Sơn, cuối vết có hướng Cao Bằng, từ đầu vết đến mép đường bên phải hướng Lạng Sơn - Cao Bằng là 7,10m, từ cuối vết đến mép đường bên phải là 8,95m. Từ đầu vết đến tâm (2) là 2,13m, từ cuối vết đến tâm trục bánh trước bên trái ô tô (3) là 9,90m. (2) Cọc hộ lan bị đâm đổ: Nằm trên lề đất bên trái hướng Lạng Sơn - Cao Bằng có diện 0,40m x 0,40m. Từ tâm đến mép đường bên phải hướng Lạng Sơn - Cao Bằng là 7,80m, từ tâm đến tâm trục bánh trước bên trái ô tô (3) là 13,00m. (3) Xe ô tô BKS 12A- 094.65: Nằm trên mương nước tại hiện trường, xe bị lật úp xuống mặt nước làm nước chảy nhiều vào bên trong. Khoang xe, đầu xe có hướng Lạng Sơn, đuôi xe có hướng Cao Bằng. Từ tâm trục bánh trước bên trái đến mép đường bên phải hướng Lạng Sơn - Cao Bằng là 15,00m từ tâm trục bánh sau bên trái đến mép đường bên phải là 14,45m.

Tại bản kết luận giám định kỹ thuật số 31/GĐKT-ĐK, ngày 20/3/2023 của Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới tỉnh Lạng Sơn, kết luận: “xe ô tô BKS 12A-094.65 tại thời điểm kiểm tra các hệ thống lái và hệ thống phanh đầy đủ cơ cấu, chi tiết, hoạt động bình thường, đảm bảo an toàn kỹ thuật. Đèn chiếu sáng phía trước và các đèn tín hiệu, còi không đủ cơ sở để kết luận”.

- Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe hạng B2 phù hợp với phương tiện điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, màu sơn bạc, BKS: 12A-094.65.

Trong vụ án này, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông là do Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô trong điều kiện trời tối, mưa nhỏ, đường trơn và vòng cua, T không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ dẫn đến không làm chủ được tốc độ nên khi xe ô tô vào cua đạp phanh đột ngột làm xe ô tô văng sang bên trái đường, lao xuống ta luy âm rơi xuống mương nước, xe ô tô bị lật ngửa dẫn đến Ngô Văn Đ ngồi ghế phụ bị ngạt nước và tử vong. Hành vi điều khiển xe ô tô khi vào cua, trong điều kiện trời tối, đường trơn trượt, không làm chủ tốc độ dẫn tới hậu quả tai nạn giao thông làm 01 người chết của Nguyễn Văn T đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.

Cáo trạng số: 36/CT-VKSTĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023 truy tố bị cáo: Nguyễn Văn T về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của bị hại; người làm chứng và các tài liệu có trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 04 (bốn) năm về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú phối hợp cùng gia đình giám sát trong thời gian thử thách; Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng; Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Do bị cáo và gia đình bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tự thỏa thuận, do vậy không đề nghị xem xét giải quyết; về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo Giấy phép lái xe hạng B2 số 200212004814 mang tên Nguyễn Văn T; các vấn đề khác đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại phiên tòa không có yêu cầu bồi thường đối với bị cáo. Xin Hội đồng xét xử, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phần tranh luận không ai có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng án treo, được ở ngoài xã hội lao động để có tiền trả nợ cho gia đình bị hại, tiền sửa xe cho anh Vương Văn D; hoàn cảnh gia đình hiện tại bố mẹ bị cáo tuổi đã cao, sức khỏe không ổn định, cần có người chăm sóc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa hôm nay bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 02/02/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, BKS: 12A-094.65, trên xe ô tô có Ngô Văn Đ ngồi ghế phụ đi từ thành phố Lạng Sơn để lên cửa khẩu Tà Lùng, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng để sửa kho lạnh. Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, khi đi đến Km 53 + 147 Quốc lộ 4A, thuộc địa phận thôn Khuổi Sao, xã Chi Lăng, huyện Tràng Định do đoạn đường cong cua, trời mưa phùn, đường trơn, T không chấp hành hệ thống biển báo hiệu giao thông đường bộ, dẫn đến không làm chủ được tốc độ khi vào cua, đạp phanh đột ngột làm xe ô tô văng sang bên trái đường, lao xuống mương nước, xe ô tô bị lật ngửa. Hậu quả Ngô Văn Đ tử vong vì “Ngạt nước” do không thoát được ra ngoài khi xe gặp nạn. Như vậy Nguyễn Văn T đã phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, hậu quả mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi của mình, hiểu biết các quy định của pháp luật, nhưng vì chủ quan, cẩu thả, thiếu quan sát, không làm chủ tốc độ khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm chết người. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của pháp luật về lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ.

Về nhân thân: Ngoài lần vi phạm pháp luật lần này, bị cáo luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật và các quy định của nơi cư trú. Do vậy Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo là người có nhân thân tốt.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi sự việc sảy ra bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; tại phiên tòa ngày hôm nay người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên đến vụ án xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5, Điều 260 Bộ luật hình sự đối với bị cáo

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với Giấy phép lái xe hạng B2 số 200212004814 mang tên Nguyễn Văn T là giấy tờ tùy thân của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T.

Những vấn đề khác với nhận định trên của Hội đồng xét xử, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải, đã bồi thường cho gia đình bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để khác phục hậu quả do hành vi của mình gây ra; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hơn nữa người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do vậy không cần phải cách ly bị cáo mà cho bị cáo cải tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình và Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú, cũng đủ để cho bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với những người phạm tội biết ăn năn hối cải, khắc phục đầy đủ hậu quả do mình gây ra.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 135, khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

2.Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/8/2023). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh H phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe B2 số: 200212004814 mang tên Nguyễn Văn T.

4.Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ