- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Phạt Vi Văn M 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/01/2023.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HS-ST Ngày 23 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mong Thái Dương và bà Vi Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Nhuần - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà: Bà Lô Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Vi Văn M (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08 tháng 8 năm 1988, tại huyện K, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vi Văn N; con bà: Vi Thị T; có vợ: Lương Thị T và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2023. Có mặt.
2. Vy Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15 tháng 5 năm 1993, tại huyện T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản P, xã M, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vi Tiến T; con bà: Vi Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2023. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Vi Văn M và Vy Văn T: Bà Nguyễn Thị Q; Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Hà Đình N, sinh năm 1970; trú tại bản L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/01/2023 Vi Văn M đang điều khiển xe đi mua ma túy thì gặp Vy Văn T tại khu vực xã M, huyện K. Lúc gặp Vi Văn M rủ Vy Văn T đi mua ma túy về sử dụng thì T đồng ý. Vy Văn T lấy xe của M và chở M đến bản Pà Khốm, xã Tri Lễ, huyện Quế Phong. Đến nơi T đưa cho M 100.000 đồng, góp tiền mua ma túy. Vi Văn M cầm tiền rồi đi mua một gói Heroine và 5 viên hồng phiến với một người không quen biết với giá 1.500.000 đồng. Mua được ma túy Vi Văn M sử dụng 5 viên Hồng phiến và Vy Văn T sử dụng một ít Heroine. Số ma túy còn lại Vi Văn M cất giấu để đưa về cùng nhau sử dụng. Khi M và T về đến khu vực trường Mầm non bản Pà Khốm, xã Tri Lễ, huyện Quế Phong thì bị bắt quả tang. Thu 01 gói chất bột màu trắng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 37Z7-6529.
Bản kết luận giám định số 141/KL- KTHS( Đ2-MT) ngày 04/02/2023 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Vi Văn M và Vy Văn T gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Vi Văn M và Vy Văn T có khối lượng là 2,42g (Hai phẩy bốn mươi hai gam).
Tại phiên tòa các bị cáo Vi Văn M và Vy Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Vào lúc 15 giờ, ngày 30/01/2023 tại bản Pà Khốm, xã Tri Lễ, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Vi Văn M và Vy Văn T đang cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang, thu 2,42 gam Heroine. Mục đích các bị cáo cất giấu ma túy là để sử dụng.
Cáo trạng số 37/CT-VKS- QP ngày 11/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Vi Văn M và Vy Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với người bán trái phép chất ma túy cho các bị cáo, do không xác minh được họ tên và địa chỉ cụ thể, nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt: Bị cáo Vi Văn M từ 30 đến 36 tháng tù; xử phạt Vy Văn T từ 12 đến 18 tháng tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại; miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo Vi Văn M từ 24 đến 30 tháng tù; xử phạt Vy Văn T 12 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng ngày 30/01/2023, tại bản Pà Khốm, xã Tri Lễ, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, các bị cáo Vi Văn M và Vy Văn T đang cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Thu của các bị cáo 2,42 gam Heroine. Các bị cáo tàng trữ ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Đối với Vi Văn M vừa là người khởi xướng, vừa là người góp tiền nhiều hơn, là người trực tiếp mua và cất giấu ma túy, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án và xử phạt với mức án cao hơn Vy Văn T; đối với Vy Văn T vừa là người góp tiền, vừa là người giúp sức cho bị cáo Vi Văn M tàng trữ 2,42 gam Heroine. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi phạm tội các bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt Bị cáo Vi Văn M từ 30 đến 36 tháng tù; xử phạt Vy Văn T từ 12 đến 18 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hợp lý. Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo Vi Văn M từ 24 đến 30 tháng tù là hợp lý; đề nghị xử phạt, Vy Văn T 12 tháng tù là thấp so với số lượng ma túy bị thu giữ.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Vi Văn M và Vy Văn T không có tài sản gì đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 2,42 gam Heroine, cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất ma túy 0,3 gam, còn lại 2,12 gam. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Phạt Vi Văn M 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/01/2023.
Phạt Vy Văn T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/01/2023.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ một phong bì bên trong đựng 2,12 gam (Không phẩy sáu mươi sáu gam) Heroine, mảnh bao ni lông màu hồng và vỏ phong bì thu giữ vật chứng ban đầu. Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 17/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Vi Văn M và Vy Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Vi Văn M và Vy Văn T có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Quế Phong. -VKSND tỉnh Nghệ An. - Công an huyện Quế Phong. - Chi cục THA DS huyện Quế Phong. - Trại tạm giam; trại giam. - Sở tư pháp; UBND xã nơi bị cáo cư trú. - Lưu VP,THAHS, Hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |