vanban.org

Bản án 36/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Tuyên án 28/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28 tháng 7 năm 2023). 1. Giao bị cáo Nguyễn Đình T cho Ủy ban nhân dân P.NH, TX.AN, tỉnh BĐ giám sát và giáo dục trong thời gian thử t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Thạch phạm tội giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ MỸ
TỈNH BÌNH ĐỊNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HS-ST
Ngày 28-7-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Phương;

2. Ông Nguyễn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 1181/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Đình T, sinh năm: 1996; tại: P.NH, TX.AN, tỉnh BĐ; nơi cư trú: Kv.NH, phường P.NH, TX.AN, tỉnh BĐ; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T1 và bà Nguyễn Thị M; có vợ và 01 người con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Ông Đặng Văn B, sinh năm: 1970 (chết).

Nơi cư trú trước khi chết: Thôn VĐ, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ.

- Đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Bà Phan Thị N, sinh năm: 1970; nơi cư trú: Thôn VĐ, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ.

Người đại diện hợp pháp của đại diện bị hại bà N: Chị Đặng Thị Thuý D, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Thôn VTĐ, xã MP, huyện PM, tỉnh BĐ (Theo văn bản uỷ quyền lập ngày 17/02/2023).

+ Chị Đặng Thị Thuý D, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Thôn VTĐ, xã MP, huyện PM, tỉnh BĐ.

+ Chị Đặng Thị D1, sinh năm: 1995; nơi cư trú: Thôn VĐ, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ

Người đại diện hợp pháp của đại diện bị hại D1: Chị Đặng Thị Thuý D, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Thôn VTĐ, xã MP, huyện PM, tỉnh BĐ (Theo văn bản uỷ quyền lập ngày 17/02/2023

+ Anh Đặng Văn T1, sinh năm: 2002; nơi cư trú: Thôn VĐ, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ.

Người đại diện hợp pháp của đại diện bị hại T2: Chị Đặng Thị Thuý D, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Thôn VTĐ, xã MP, huyện PM, tỉnh BĐ (Theo văn bản uỷ quyền lập ngày 17/02/2023).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Thị L, sinh năm: 1968; nơi cư trú: Số nhà 15 đường NVT, kv.TH, p.NT, TX.AN, tỉnh BĐ; (có mặt).

+ Ông Lê Đình N, sinh năm: 1965; nơi cư trú: Số nhà 15 đường NVT, kv.TH, p.NT, TX.AN, tỉnh BĐ; (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Đặng Đình L1, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Thôn VP, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ; (vắng mặt)

+ Ông Đặng Văn L2, sinh năm: 1957; nơi cư trú: Thôn VP, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 15/02/2023, Nguyễn Đình T (có giấy phép lái xe ô tô hạng C) điều khiển xe ôtô tải biển số kiểm soát 77C-…đi từ huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định chở hàng đến thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, sau khi dừng xe nghỉ ngơi tại xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, T tiếp tục điều khiển cho xe đi theo lịch trình. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc thôn VP, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ, nơi có biển báo nguy hiểm ở lề đường phía đông, có 03 cụm gờ giảm tốc trên mặt đường, đoạn mở của giải phân cách có biển báo quay đầu xe và có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường, T điều khiển xe đi ở làn đường dành cho xe cơ giới phía tây, với vận tốc khoảng 58km/h thì thấy ông Đặng Văn B điều khiển xe môtô biển số kiểm soát 77N2-… đang dừng tại đoạn mở của dải phân cách, biểu hiện muốn qua đường. Vì chủ quan cho rằng xe môtô trên sẽ nhường đường cho xe ô tô của T qua trước, nên T không giảm tốc độ, cho xe lưu thông bình thường. Trong lúc T nhìn vào gương chiếu hậu bên phải để quan sát ở phía sau, sau đó quay mặt lại nhìn về phía trước thì ngay lúc này T phát hiện thấy ông B đang điều khiển cho xe qua đường và ở ngay giữa làn đường, trước đầu xe ô tô. T đánh lái cho xe về phía bên trái tránh né nhưng không kịp nên dẫn đến tai nạn giao thông; phần cản bên phải phía trước đầu xe ôtô biển số kiểm soát 77C-… tông vào phuộc nhún bánh trước bên phải của xe môtô biển số kiểm soát 77N2-… làm ông B và xe môtô biển số kiểm soát 77N2-… đều ngã về bên trái, nằm xuống mặt đường. Xe ôtô tải do T điều khiển tiếp tục di chuyển về hướng Tây Bắc một đoạn rồi dừng lại. Hậu quả: Ông Đặng Văn B tử vong trên đường đưa đi cấp cứu.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông được mô tả tại sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 15/02/2023.

Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 52/2023/PY-TT ngày 27/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định xác định nguyên nhân ông Đặng Văn B chết do sốc đa chấn thương.

Vật chứng, đồ vật tài liệu thu giữ: 01 (một) xe ô tô biển số 77C- …; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô 77C- ….; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô 77C- ….; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe ô tô 77C- ….; 01 (một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Đình T; 01 (một) xe mô tô biển số 77N2-…..

Về xử lý vật chứng, đồ vật tài liệu: Ngày 06/3/2023 và ngày 17/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện Phù Mỹ đã trả lại: 01 (một) xe ô tô biển số 77C- ….; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô 77C- ….; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô 77C- … cho bà Trần Thị L; trả lại: 01 (một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Đình T cho Nguyễn Đình T và trả lại 01 (một) xe mô tô biển số 77N2-…. cho đại diện hợp pháp bị hại là bà Đặng Thị Thúy D.

Về dân sự: Các bên liên quan đã giải quyết xong, không khiếu nại gì.

Tại bản Cáo trạng số: 31/CT-VKSPM ngày 06/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Nguyễn Đình T ra trước Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Đặng Thị Thuý D vắng mặt. Tuy nhiên tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị D xác định gia đình đã nhận khoảng tiền bồi thường 70.000.000 đồng xong, không yêu cầu bồi thường thêm và đề nghị xử phạt bị cáo Thạch theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Lê Đình N và bà Trần Thị L xác định là chủ sở hữu xe ô tô biển số kiểm soát 77C-….. Sau khi tai nạn xảy ra, cùng bị cáo T đến gia đình bị hại để thương lượng bồi thường tổng số tiền 70.000.000 đồng xong. Xe ô tô biển số kiểm soát 77C-…. và các giấy tờ xe đã nhận lại xong, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại xe ô tô.

Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định giữ nguyên quyết định truy tố, nêu luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và có ấn định thời gian thử thách.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bên đã thoả thuận bồi thường xong, nên không xét.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe ô tô biển số 77C- ….; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô 77C- ….; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô 77C- …..; 01 (một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Đình T và 01 (một) xe mô tô biển số 77N2-…., Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Phù Mỹ đã trả lại cho chủ sở hữu xong, nên không xét.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dân sự không ai có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình bị cáo mà giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Phù Mỹ, Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường, phù hợp với biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tại nạn giao thông và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 15/02/2023, tại đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc thôn VP, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ, bị cáo Nguyễn Đình T trực tiếp điều khiển xe ô tô tải biển số kiểm soát 77C-….. của vợ chồng bà Trần Thị L, ông Lê Đình N tham gia giao thông theo hướng Nam – Bắc do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, dẫn đến gây tai nạn giao thông với xe mô tô biển số kiểm soát 77N2-…. do ông Đặng Văn B điều khiển qua đường. Hậu quả: Ông Đặng Văn B chết trên đường đưa đi cấp cứu.

Bị cáo Nguyễn Đình T đã được Sở Giao thông vận tải tỉnh BĐ đào tạo và cấp giấy phép lái xe hạng C. Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, bị cáo T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đình T đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng số: 31/CT-VKSPM ngày 06/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông được xác định do lỗi của bị cáo T và nạn nhân B: Bị cáo T điều khiển xe ô tô trên đoạn đường có biển báo nguy hiểm (biển báo giao nhau với đường không ưu tiên), có 03 cụm gờ giảm tốc và đoạn đường mở của giải phân cách có biển báo quay đầu xe, có xe môtô có dấu hiệu qua đường nhưng không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ là vi phạm Điều 12 Luật Giao thông đường bộ; nạn nhân B điều khiển xe mô tô tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn 189mg/dl, điều khiển xe mô tô qua đường không chú ý quan sát, nhường đường cho phương tiện giao thông hai hướng đi đến là vi phạm khoản 8 Điều 8; khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Việc chấp hành nghiêm chỉnh quy định về an toàn giao thông đường bộ là điều kiện bắt buộc đối với tất cả mọi người khi tham gia giao thông đường bộ. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, để lại hậu quả nghiêm trọng. Hành vi đó không những trực tiếp gây thiệt hại cho tính mạng của người khác mà còn làm ảnh hưởng chung đến tình hình quản lý an ninh trật tự, an toàn giao thông đường bộ ở địa phương. Nên cần thiết phải lên một mức án tương xứng với hậu quả mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, để bị cáo có đủ thời gian cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo, chủ phương tiện đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại xong; hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú). Trong vụ án này nạn nhân cũng có một phần lỗi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; bị cáo có từ nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo cũng có thể giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới.

[6] Về hình phạt bổ sung: Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Thiệt hại tài sản là xe ô tô biển số kiểm soát 77C- …., chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường nên không xét.

Đối với thiệt hại tính mạng của ông Đặng Văn B: Các bên đã thỏa thuận bồi thường số tiền 70.000.000 đồng xong. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, nên không xét.

Đối với thiệt hại xe mô tô biển số 77N2-…..: Đại diện chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường nên không xét.

[8] Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

01 (một) xe ô tô biển số 77C- …..; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô 77C- …..; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô 77C- …..; 01 (một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Đình T và 01 (một) xe mô tô biển số 77N2-….., Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Phù Mỹ đã trả lại cho chủ sở hữu xong, nên không xét.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo; đề nghị về bồi thường dân sự và xử lý vật chứng đều phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28 tháng 7 năm 2023).

2.1. Giao bị cáo Nguyễn Đình T cho Ủy ban nhân dân P.NH, TX.AN, tỉnh BĐ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

2.2. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ