vanban.org

Bản án 36/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 16/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân H - phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân H - phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PL
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HS-ST
Ngày 16 - 6 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Nam;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Đinh Quốc Minh;

2. Ông: Nguyễn Văn Thuyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Triệu Đức Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại UBND xã Đ, Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Xuân H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 09/3/1973.

- Nơi đăng ký HK thường trú và chỗ ở: xóm KN, xã Đ, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Họ và tên cha: Nguyễn Xuân O (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N (SN 1950). Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Trần Thị K– sinh 1971; có 02 con, lớn sinh 1992 nhỏ sinh1999.

- Tiền án: 01. Tại Bản án số 25 ngày 15/5/2020 của Toà án nhân dân huyện PT, TP Hà Nội, xử phạt Nguyễn Xuân H 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/6/2021.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Ngày 05/7/2012, UBND xã Đ, huyện PL áp dụng biện pháp về việc cai ma tuý tại gia đình và cộng đồng với thời hạn 06 tháng. Đến ngày 05/01/2013 chấp hành xong Quyết định.

+ Ngày 28/03/2013, Uỷ ban nhân dân huyện PL áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở chữa bệnh với thời hạn 18 tháng. Đến ngày 10/10/2014 chấp hành xong Quyết định.

+ Ngày 12/03/2015, Chủ tịch UBND xã Đ, huyện PL áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng. Đến ngày 12/6/2015 chấp hành xong Quyết định.

+ Ngày 04/03/2016, Toà án nhân dân huyện PL áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 12 tháng. Chấp hành xong ngày 06/6/2017.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện PL. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Đức Luân, sinh năm 1964;

Nơi ĐKHKTT: xóm Ao Trám, xã Đ, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/02/2023, tổ công tác Công an xã Đ, huyện PL đang làm nhiệm vụ tại xóm Ao Trám, xã Đ, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên phát hiện Nguyễn Xuân H có biểu hiện nghi liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã vận động H giao nộp những đồ vật liên quan đến ma túy. H tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc trên người 02 gói chất bột màu trắng được gói bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng giao nộp cho tổ công tác. (H khai là Heroine mua về để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Xuân H, thu giữ niêm phong vật chứng, ký hiệu bì niêm phong (H). Sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện PL để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng được niêm phong trong bì ký hiệu H có khối lượng 0,253gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu A1).

Tại bản kết luận giám định số 367/KL-KTHS ngày 12/02/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine có khối lương 0,253gam.

Quá trình điều tra đã làm rõ hành vi như sau: Nguyễn Xuân H là người nghiện ma tuý. Khoảng 10 giờ ngày 04/02/2023, H đi bộ từ nhà đến khu vực xóm Ao Trám, xã Đ, huyện PL để mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, H gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma tuý với giá 400.000đ, (bốn trăm ngàn đồng), H cất giấu tại túi quần bên trái và đi bộ về nhà, khi đi đến xóm Ao Trám, xã Đ, huyện PL thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Do có hành vi trên tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSPL ngày 15/5/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên trình bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Xuân H, từ 30 đến 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo pH nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phần tranh tụng: Bị cáo không tranh tụng.

Nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm cho bị cáo mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện PL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ căn cứ để xác định: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 04/02/2023, tại xóm Ao Trám, xã Đ, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Xuân H có hành vi tàng trữ trái phép 0,253gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an xã Đ, huyện PL phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo xác định số ma túy trên mua của 01 người đàn ông không quen biết, với số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).

Bản Cáo trạng số 34/CT-VKSPL ngày 15/5/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

c) Heroine,...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Việc truy tố và xét xử bị cáo là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

- Về nhân thân: Có 01 tiền án chưa được xóa án tích, Tại Bản án số 25 ngày 15/5/2020 của Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội, xử phạt Nguyễn Xuân H 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/6/2021.

Tiền sự: Không

Nhân thân:

+ Ngày 05/7/2012, UBND xã Đ, huyện PL áp dụng biện pháp về việc cai ma tuý tại gia đình và cộng đồng với thời hạn 06 tháng. Đến ngày 05/01/2013 chấp hành xong Quyết định.

+ Ngày 28/03/2013, Uỷ ban nhân dân huyện PL áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở chữa bệnh với thời hạn 18 tháng. Đến ngày 10/10/2014 chấp hành xong Quyết định.

+ Ngày 12/03/2015, Chủ tịch UBND xã Đ, huyện PL áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng. Đến ngày 12/6/2015 chấp hành xong Quyết định.

+ Ngày 04/03/2016, Toà án nhân dân huyện PL áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 12 tháng. Chấp hành xong ngày 06/6/2017.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự . Bị cáo pH chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, phạm tội với lỗi cố ý, không có ý thức chấp hành pháp luật nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy hiện đang bị tạm giam, không có tài sản thu nhập riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng là ma túy và vỏ bao giấy gói.

Bị cáo pH nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, có người bán cho bị cáo 0,253gam Heroine tại khu vực xóm Ao Trám, xã Đ, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên. Do bị cáo không biết rõ họ tên, địa cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xác minh, điều tra làm rõ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân H - phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự .

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân H 36 (ba mươi sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/02/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn lại 0,243 gam mẫu A1còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Mẫu lưu kho. Bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu H và các vỏ giấy gói.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận số 49/2023 ngày 18/ 5/2023 giữa Công an huyện PL và Chi cục thi hành án dân sự huyện PL).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban fán phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ