- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 36/2023/HS-ST Ngày: 20/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thuý và ông Vũ Quang Nguyên.
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Động.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động tham gia phiên tòa: Ông Dương Sơn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2023/TLST- HS ngày 14/6/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HS ngày 10/7/2023 đối với bị cáo:
Trần Đức Q, sinh năm 1986 tại Hưng Yên; HKTT: Thôn MV, xã SM, huyện KĐ, tỉnh HY; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ích Th (đã chết) và bà Lê Thị H; Vợ: Trần Thị Ng (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2012.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2023, chuyển tạm giam ngày 11/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; Trú quán: Thôn BN, thị trấn LB, huyện KĐ, tỉnh HY.
* Người chứng kiến: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1971; Trú quán: Thôn TX, xã SM, huyện KĐ, tỉnh HY.
(Những người làm chứng và người chứng kiến đều vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 55 ngày 08 tháng 3 năm 2023, tại địa phận thôn Thanh Xuân, xã Song Mai, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Công an huyện Kim Động phối hợp với Công an xã Song Mai đang tuần tra, canh gác thì phát hiện Trần Đức Q, sinh năm 1986 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác thu giữ tại lòng bàn tay trái của Q 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long chứa 01 gói nilon, bên trong có chất tinh thể màu trắng, Q khai nhận là ma túy loại Methamphetamine. Tổ công tác đã thu giữ và niêm phong theo quy định pháp luật.
Tại cơ quan điều tra, Q khai nhận: Do là đối tượng nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 08/3/2023, Trần Đức Q cùng với Nguyễn Văn A, sinh năm 1990 ở thôn Mai Viên, xã Song Mai, huyện Kim Động rủ nhau đi mua ma túy về sử dụng chung. A điều khiển xe mô tô chở Q đi đến địa phận thôn Phượng Lâu, xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động để mua ma túy. Tại đây, Q đứng ngoài chờ, A là người trực tiếp đi mua 300.000 đồng ma túy đá của một người phụ nữ tên A không rõ họ tên đầy đủ, tuổi, địa chỉ ở đâu. Sau đó, A cất gói ma túy vừa mua được vào 01 vỏ bao thuốc là thăng long đưa cho Q cầm rồi điều khiển xe mô tô chở Q đi tìm nơi sử dụng chung ma túy. Khi đi đến cửa hàng tạp hóa Trang Hiếu tại thôn Thanh Xuân thì Q xuống xe định mua bao thuốc thì bị lực lượng công an bắt quả tang, còn A điều khiển xe mô tô bỏ chạy.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Động tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Q nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 162/KL-KTHS(MT) ngày 11/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong có khối lượng 0,323 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Đối với đối tượng Nguyễn Văn A, Q khai nhận cùng đi mua ma túy ngày 08/3/2023. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Song Mai xác định không có ai tên là Nguyễn Văn A mà chỉ có người tên Nguyễn Khả A, sinh năm 1990 ở thôn Mai Viên, xã Song Mai, huyện Kim Động con ông Nguyễn Văn Sơn và bà Nguyễn Thị Nga. Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Khả A lên làm việc 03 lần nhưng A không có mặt tại địa phương, anh Ân đi đâu làm gì không ai biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera tại nơi xảy ra sự việc nhưng không phát hiện camera xung quanh. Do thời hạn điều tra đã hết nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi của Nguyễn Khả A ra để giải quyết sau.
Đối với người phụ nữ tên Ánh bán ma túy cho Q và đối tượng tên Ân ngày 08/3/2023, Q khai nhận không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, đặc điểm của Ánh, ngoài ra Cơ quan điều tra chưa tiến hành lấy lời khai được Ân. Do đó không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.
Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kim động đang quản lý vật chứng và các đồ vật, tài sản liên quan trong vụ án: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 162/KL-KTHS(MT).
Cáo trạng số 32/CT-VKSKĐ ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố Trần Đức Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Q thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động trình bày luận tội giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đồng thời đề nghị HĐXX:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 02/01/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu vật gửi giám định, trên có ghi số 162/KL-KTHS(MT) là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện Kim Động và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản xác minh; Biên bản khám xét; biên bản thu giữ vật chứng; Biên bản lấy lời khai người làm chứng...; Như vậy, HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 10 giờ 55 ngày 08 tháng 3 năm 2023, tại thôn Thanh Xuân, xã Song Mai, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Trần Đức Q đã tàng trữ trái phép 0,323 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của nhà nước đối với các chất ma túy và chất gây nghiện. Tội phạm ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy nên ý thức rõ tác hại của ma túy đối với thể lực và trí lực của con người nhưng vì nhu cầu của bản thân nên vẫn bất chấp các quy định của pháp luật, thực hiện việc phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội .
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Về nhân thân: Bị cáo Q là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo Q không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ TNHS được áp dụng đối với bị cáo, HĐXX xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng Nguyễn Văn A, Q khai nhận cùng đi mua ma túy cùng ngày 08/3/2023. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Song Mai xác định không có ai tên là Nguyễn Văn A mà chỉ có người tên Nguyễn Khả A, sinh năm 1990 ở thôn Mai Viên, xã Song Mai, huyện Kim Động. Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Khả A lên làm việc 03 lần nhưng A không có mặt tại địa phương, anh A đi đâu làm gì không ai biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera tại nơi xảy ra sự việc nhưng không phát hiện camera xung quanh. Tuy nhiên, nay thời hạn điều tra sắp hết, chưa làm việc được với A nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi của Nguyễn Khả A để giải quyết sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với người phụ nữ tên A bán ma túy cho Q và đối tượng tên A ngày 08/3/2023, Q khai nhận không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, đặc điểm của A, ngoài ra Cơ quan điều tra chưa tiến hành lấy lời khai được A. Do đó không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý là hợp lý.
. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì hoàn mẫu vật gửi giám định, trên có ghi số 162/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,323 gam ma túy, loại Methamphetamine là vật cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu huỷ.
. Về án phí: Bị cáo Q phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
3. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Đức Q 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/3/2023.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu vật gửi giám định, trên có ghi số 162/KL-KTHS(MT) là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
(Tình trạng, đặc điểm chi tiết vật chứng nêu trên được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 20/6/2023 giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Động).
5. Về án phí: Bị cáo Trần Đức Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh (Phòng KTNV & THA); - VKSND huyện Kim Động; - Cơ quan điều tra và bộ phận HSNV Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |