vanban.org

Bản án 36/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tuyên án 29/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Quốc V 01 (Một) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HS-ST
Ngày: 29-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Tấn Tài.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Tiến.

2/ Bà Võ Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Hữu Lộc - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Thạo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh Bến Tre, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri tiến hành xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 36/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HS ngày 12/9/2023 và Thông báo thay đổi ngày xét xử số 04/TB-TA ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đối với bị cáo:

Trần Quốc V, sinh ngày 30/5/1997; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký thường trú: số 304/AN, ấp A, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh N và bà La Thị G; Vợ, con: Chưa có; Có 04 anh em; lớn nhất sinh năm 1992, người nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Lúc nhỏ sinh sống với cha mẹ, học văn hóa đến lớp 5 thì nghỉ học phụ giúp gia đình, làm nghề đi ghe biển cho đến ngày phạm tội. Sau khi phạm tội đến ngày 07/7/2023, bị Công an huyện Ba Tri ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/7/2023, đến ngày 07/7/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bến Tre cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Võ Thị Bé L, sinh năm 1969;

Nơi cư trú: Số 178/VĐTr, ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng: Lê Trung H, sinh năm 1995;

Nơi cư trú: Số 169/VĐT, ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc V - sinh ngày 30/5/1997 cư ngụ số 304/AN, ấp A, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào sáng ngày 04/7/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên V nhờ bạn đi chung ghe tên G (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy và được G đồng ý. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì có số điện thoại lạ gọi cho V và bảo V ra chợ xã V nhận ma túy. V đi ra chợ xã V thì gặp 01 người thanh niên đeo khẩu trang kín mặt (không rõ nhân thân lai lịch), người này kêu V đưa 700.000 đồng. Sau khi V đưa tiền thì người thanh niên chỉ dưới đất có vỏ bao thuốc lá hiệu SCOTT và người này bỏ đi. V liền nhặt vỏ bao thuốc lá hiệu SCOTT lên mở ra thì thấy bên trong có túi ma túy nên V lấy túi ma túy ra còn vỏ bao gói thuốc lá hiệu SCOTT thì vứt bỏ rồi đem túi ma túy về nhà cất giấu. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/7/2023, V lấy túi ma túy bỏ vào túi quần sau bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số 71C2-850.79 (xe thuộc sở hữu của bà Võ Thị Bé L) định đi đến nhà bạn ở xã A, huyện B chơi. Khi Việt điều khiển xe đến khu vực số nhà 535/AL, ấp A, xã A, huyện B thì bị phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ, gồm:

- 01 túi nilon màu trắng có kích thước 2,5cm x 03cm được hàn kín bốn phía cạnh, có một cạnh có rãnh bấm, phía trên rãnh bấm có đường viền màu xanh, bên trong túi chứa nhiều chất tinh thể màu trắng thu trong túi quần sau bên trái Trần Quốc V đang mặc được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01; chưa xử lý.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng trắng thu trong túi quần phía trước bên trái của Trần Quốc V đang mặc được niêm phong trong phong bì ký hiệu T02; chưa xử lý.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 71C2-850.79; Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu Võ Thị Bé L.

Tại Bản kết luận giám định số 511/2023/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6327 gam. Hoàn lại mẫu vật ký hiệu T01 sau giám định đã được niêm phong có khối lượng là 0,4809 gam.

Tại Bản Cáo trạng số: 38/CT-VKSBT ngày 07/9/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri truy tố bị cáo Trần Quốc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc V từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì số 511/2023 được niêm phong bằng chữ ký và viết họ tên của Phan Trung Trực, Nguyễn Ngọc Minh và Nguyễn Thành Trung đồng thời có dấu mọc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bến Tre (phong bì ký hiệu T01 bên trong có chứa mẫu vật là ma túy sau giám định có khối lượng 0.4809 gam);

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng trắng được niêm phong trong phong bì trên phong bì có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Thành Trung, Trần Quốc Việt, Lê Trung Hào và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri.

(Do đây là vật không có giá trị, cấm tàng trữ, công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội của bị cáo)

+ Ghi nhận Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 71C2-850.79 cho chủ sở hữu là bà Võ Thị Bé L.

* Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc V đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thị Bé L đã nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 71C2-850.79 và không có yêu cầu gì thêm.

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận nên Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm. Bị cáo nói lời nói sau cùng, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thị Bé L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Người làm chứng Lê Trung H vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai rõ trong quá trình điều tra vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo Trần Quốc V là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng là ma túy đã thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang cùng những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy, nên bị cáo nên Trần Quốc V đã có hành vi mua và cất giữ trái phép 0,6327 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 04/7/2023 tại ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Trần Quốc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người đã trưởng thành, đủ tuổi và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện. Vì vậy, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra. Do đó, HĐXX xét thấy cần xử lý bị cáo bằng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo nhằm giúp bị cáo từ bỏ chất ma túy để trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa chung trước thực trạng tệ nạn ma túy đang ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện nhà.

Về tình tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ hình sự của bị cáo HĐXX thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (Một) phong bì số 511/2023 được niêm phong bằng chữ ký và viết họ tên của Phan Trung Trực, Nguyễn Ngọc Minh và Nguyễn Thành Trung đồng thời có dấu mọc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bến Tre (phong bì ký hiệu T01 bên trong có chứa mẫu vật là ma túy sau giám định có khối lượng 0.4809 gam) là vật cấm tàng trữ nên bị tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng trắng được niêm phong trong phong bì trên phong bì có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Thành Trung, Trần Quốc Việt, Lê Trung Hào và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội của bị cáo còn sử dụng được nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 71C2-850.79, Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả cho chủ sở hữu Võ Thị Bé L là phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với đối tượng tên “G” liên hệ người bán ma túy cho bị cáo Trần Quốc V do không xác định được nhân thân và lai lịch đối tượng nên không có cơ sở xem xét xử lý trong vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Quốc V 01 (Một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì số 511/2023 được niêm phong bằng chữ ký và viết họ tên của Phan Trung Trực, Nguyễn Ngọc Minh và Nguyễn Thành Trung đồng thời có dấu mọc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bến Tre (phong bì ký hiệu T01 bên trong có chứa mẫu vật là ma túy sau giám định có khối lượng 0.4809 gam).

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng trắng được niêm phong trong phong bì trên phong bì có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Thành Trung, Trần Quốc Việt, Lê Trung Hào và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri.

(Theo phiếu nhập kho số NKTV.33 ngày 11/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri).

+ Ghi nhận Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 71C2-850.79 cho chủ sở hữu là Võ Thị Bé Liên.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14;

Buộc bị cáo Trần Quốc V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ