vanban.org

Bản án 36/2023/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Vi Thị H. Cho chị H được ly hôn anh Vang Văn X.

Về giao nuôi con chung: Giao con chung là cháu Vang An Nh, sinh ngày 28/01/2021 cho chị Vi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi các con chung trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vang Văn X. Anh Vang Văn X không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại, th…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vi thị hiền - vang văn xuân"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Vi Thị H. Cho chị H được ly hôn anh Vang Văn X.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HNGĐST
Ngày: 18-5-2023
V/việc: " Tranh chấp hôn nhân và gia đình "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà :

Ông Lô Xuân Diệu.

Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Vi Anh Tú.

Ông Lý Văn Huân.

- Thư ký phiên toà: Ông Tăng Thành Vương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vi Thị H. Sinh năm: 2001.

Trú tại: Bản B.C, xã Ch.H, huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vang Văn X. Sinh năm: 1998.

Trú tại: Bản B.C, xã Ch.H, huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An.

Hiện nay đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện tỉnh Nghệ an. Địa chỉ: số 58, đường Đặng Như Mai, xóm 14, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị H trình bày như sau: Chị H và anh Vang Văn X kết hôn trên cơ sở tự nguyện và tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán vào đầu năm 2020. Đến ngày 20/5/2020 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Ch.H, huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung cùng bố, mẹ đẻ anh Vang Văn X là ông Vang Văn T và bà Lý Thị T tại bản B.C, xã Ch.Hoàn, huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do anh X nghiện ma túy, không chịu khó làm ăn, chăm lo cho gia đình. Chị H và gia đình đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng vẫn không được. Sau đó, anh X đã bị Tòa án nhân dân huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xác định vợ chồng không còn tình cảm và cũng không ai quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Vì vậy, chị H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vang Văn X.

Về quan hệ con cái: Chị H và anh X có một người con chung là Vang An Nh, sinh ngày 28/01/2021. Ngoài ra, hai người không nhận nuôi con nuôi và không ai có con riêng. Nếu ly hôn, chị H đề nghị được giao nuôi con chung và không yêu cầu anh Vang Văn X phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và nợ chung: Chị Vi Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết; Không yêu cầu bố, mẹ đẻ của anh X phải trích chia công sức đóng góp trong thời gian sống chung. Do phải đi làm thuê để chăm lo cho con cái nên chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt chị Vi Thị H.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Vang Văn X trình bày: Vợ chồng kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn đúng như chị Vi Thị H đã trình bày. Anh cho rằng mâu thuẫn vợ chồng là do bản thân anh nghiện ma túy và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bản thân anh xác định vẫn còn tình cảm với chị H và đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng quay lại đoàn tụ với nhau; Vợ chồng có một người con chung đúng như chị H đã trình bày. Nếu ly hôn, anh đề nghị được giao nuôi con chung và không yêu cầu chị Vi Thị H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và nợ. Ngoài ra, anh Vang Văn X có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Vi Thị H được ly hôn anh Vang Văn X.

- Về việc giao nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giao con chung là cháu Vang An Nh, sinh ngày 28/01/2021 cho chị Vi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vang Văn X.

- Về chia tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Vi Thị H và anh Vang Văn X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị không xem xét.

- Về án phí: Buộc chị Vi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nguyên đơn và bị đơn đều cư trú tại xã Ch.H, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự có mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Vi Thị H và anh Vang Văn X đã chấp hành đúng và đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, chị H và anh X vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Vi Thị H và anh Vang Văn X.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị H và anh Vang Văn X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh X là hợp pháp. Quá trình chung sống thì giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh X nghiện ma túy, không chăm lo cho gia đình và vợ chồng cũng đã sống ly thân từ tháng 09/2022 cho đến nay, không ai còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án do anh X đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên không thể tiến hành giải đoàn tụ được, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị Vi Thị H được ly hôn với anh Vang Văn X.

Về quan hệ con cái: Con chung của chị H và anh X là cháu Vang An Nh, sinh ngày 28/01/2021. Ly hôn, chị H và anh X đều đề nghị được giao nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy, việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng, chăm sóc cần phải căn cứ vào điều kiện thực tế để đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung. Bản thân anh X là người nghiện ma túy và hiện nay đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện tỉnh Nghệ An. Chị H hiện nay đang đi làm, có công việc và thu nhập ổn định. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung cho chị Vi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vang Văn X.

Về quan hệ tài sản: Chị Vi Thị H và anh Vang Văn X không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản. Do đó không xem xét.

Về án phí: Căn cứ điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Vi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51; 56; 81; 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình. Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Vi Thị H. Cho chị H được ly hôn anh Vang Văn X.

- Về giao nuôi con chung: Giao con chung là cháu Vang An Nh, sinh ngày 28/01/2021 cho chị Vi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi các con chung trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vang Văn X.

Anh Vang Văn X không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Vi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006526 ngày 14 tháng 3 năm 2023. Chị Vi Thị H đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ