vanban.org

Bản án 36/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thúy V đối với bị đơn ông Lê Thanh H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thúy V được ly hôn với ông Lê Thanh H. Về con chung: Giao cháu Lê Thiện N, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2021 cho bà Lê Thị Thúy V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Thúy V về việc không yêu cầu ông Lê Thanh H cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà V khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thúy V đối với bị đơn ông Lê Thanh H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-5-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quang Tuyến.

2. Ông Đỗ Duy Văn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Lưu Kim Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 450/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thúy V, sinh năm 1994; địa chỉ: Số 94/41, đường N, tổ 41, khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1992; địa chỉ: Số 60/1, đường T, tổ 22, khu phố 4, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông H đang chấp hành án tại Trại giam A, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Thúy V trình bày:

Bà Lê Thị Thúy V và ông Lê Thanh H là vợ chồng, đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74, ngày 27 tháng 8 năm 2020. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân giữa bà V và ông H không hạnh phúc, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và không thể hàn gắn; vợ chồng không còn sống chung với nhau và không cùng nhau thực hiện các công việc chung trong gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà V khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà V và ông H có 01 con chung tên Lê Thiện N, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2021. Hiện nay cháu N đang sống cùng bà V, do bà V nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Thanh H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 4 năm 2023 (tại Trại giam A), ông H thể hiện ý kiến đồng ý ly hôn với bà V. Về con chung: Bà V và ông H có 01 con chung tên Lê Thiện N, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2021; khi ly hôn, ông H đồng ý giao con chung cho bà V nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy mâu thuẫn giữa bà V và ông H đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về con chung: Bà V và ông H có 01 con chung tên Lê Thiện N, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2021; hiện nay cháu N chỉ mới hơn 27 tháng tuổi, khi ly hôn bà V yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N, yêu cầu của bà V là có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông H nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông H đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn bà V và bị đơn ông H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà V và ông H tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương năm 2020 và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 74, ngày 27 tháng 8 năm 2020. Hôn nhân của bà V và ông H là hợp pháp.

Bà V cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung; cả hai không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau thực hiện các công việc chung trong gia đình; do đó bà V khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông H. Tại biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 4 năm 2023 (tại Trại giam A), ông H cũng thừa nhận cuộc sống hôn nhân của bà V và ông H có phát sinh mâu thuẫn, bà V yêu cầu được ly hôn với ông H thì ông H đồng ý.

Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà V và ông H đã không còn, mục đích hôn nhân giữa bà V và ông H không đạt được nên bà V và ông H đều thống nhất ly hôn. Do đó yêu cầu của bà V về việc được ly hôn với ông H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà V và ông H có 01 con chung tên Lê Thiện N, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2021. Hiện nay cháu N chỉ mới hơn 27 tháng tuổi và đang sống cùng với bà V, bà V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà V về việc không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà V phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thúy V đối với bị đơn ông Lê Thanh H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thúy V được ly hôn với ông Lê Thanh H.

- Về con chung: Giao cháu Lê Thiện N, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2021 cho bà Lê Thị Thúy V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Thúy V về việc không yêu cầu ông Lê Thanh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Lê Thị Thúy V và ông Lê Thanh H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai được quyền cản trở. Trường hợp ông Lê Thanh H lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của bà Lê Thị Thúy V thì bà Lê Thị Thúy V có quyền yêu cầu hạn chế quyền thăm nom con của ông Lê Thanh H theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt vấn đề giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Thúy V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0002087 ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ