- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn Q.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22/3/2023 V/v tranh chấp Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
- Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Thành Thật
Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 439/2022/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/01/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 65/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/02/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Mai Văn Q, sinh năm 1994; nơi cư trú: số 409/10, khóm TT, phường MT, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1994; nơi cư trú: số 409/10, khóm TT, phường MT, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 8 năm 2022 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn ông Mai Văn Q trình bày:
Về hôn nhân: ông Q và bà A do quen biết nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường MT vào ngày 27/10/2015. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc được 8 năm thì phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn, hiện đã ly thân. Do đó ông Q yêu cầu ly hôn với bà A.
Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Mai Thành T, sinh ngày 26/02/2013 và Mai Thành H, sinh ngày 17/9/2014. Hiện con chung đang do ông Q nuôi dưỡng, khi ly hôn ông yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: giải quyết theo quy định pháp luật.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị A đã được Tòa án tống đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng bà không gửi văn bản tự khai và không tham gia tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến của bà.
Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không tham gia phiên hòa giải, công khai chứng cứ, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Văn Q, cho ông Q ly hôn với bà A. Ông bà có 02 (hai) con chung tên Mai Thành T, sinh ngày 26/02/2013 và Mai Thành H, sinh ngày 17/9/2014, giao con chung cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng, bà A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết. Án phí sơ thẩm: theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Ông Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà A, địa chỉ cư trú của bà A thuộc phường MT, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: ông Mai Văn Q và bà Nguyễn Thị A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng ông Q có đơn xin xét xử vắng mặt, bà A thì vắng mặt không có lý do chính đáng tại phiên toà lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Q, bà A theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Ông Q và bà A tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 27/10/2015 tại UBND phường MT, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang nên được pháp luật Việt Nam công nhận hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Nay cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn nên ông Q yêu cầu được ly hôn với bà A.
Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà A để bà thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn tuy nhiên cho đến nay bà A vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như bà tự từ bỏ quyền lợi của bản thân. Qua xác minh thì địa phương cho biết bà Nguyễn Thị A vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm TT, phường MT, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cũng như chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống nhưng trên thực tế giữa ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, không còn sự thăm nom, chăm sóc lẫn nhau và không còn chung sống cùng nhau. Thời gian ly thân kéo dài mà ông bà vẫn không thể giải quyết mâu thuẫn để quay về chung sống cùng nhau. Nay ông Q vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn và xin vắng mặt khi xét xử cho thấy sự cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn, bà A thì trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn lại với nhau nhưng bà A vắng mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đến Tòa án, điều này chứng tỏ bà A không có thiện chí muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của ông Q. Như vậy cho thấy cuộc sống chung của ông bà không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai do đó yêu cầu ly hôn của ông Q với bà A là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Mai Thành T, sinh ngày 26/02/2013 và Mai Thành H, sinh ngày 17/9/2014, hiện đang do ông Q nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ông Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà A cấp dưỡng. Bà A không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi con chung cũng như không đến Tòa án tham gia hòa giải nên không ghi nhận được ý kiến của bà A về việc nuôi con. Xét thấy, hiện 02 con chung đang sống cùng ông Q, để đảm bảo ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập cho con chung cũng như phù hợp với nguyện vọng của con chung (biên bản ghi ý kiến con chung ngày 12/10/2022) nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho ông Q được tiếp tục nuôi dưỡng. Bà A không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Q không có yêu cầu.
Ông Q và các thành viên gia đình không được cản trở bà A trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà A không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Mai Văn Q ly hôn với bà Nguyễn Thị A.
Giấy chứng nhận kết hôn số 193/2015, quyển số 02/2015 cấp ngày 27 tháng 10 năm 2015 của Uỷ ban nhân dân phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho ông Mai Văn Q và bà Nguyễn Thị A không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Mai Thành T, sinh ngày 26/02/2013 và Mai Thành H, sinh ngày 17/9/2014, con chung hiện đang do ông Q nuôi dưỡng. Giao 02 (hai) con chung là Mai Thành T, sinh ngày 26/02/2013 và Mai Thành H, sinh ngày 17/9/2014 cho ông Q được tiếp tục nuôi dưỡng, bà A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Q và các thành viên gia đình không được cản trở bà A trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Mai Văn Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000850 ngày 05/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Bà Nguyễn Thị A không phải chịu án phí sơ thẩm.
Ông Mai Văn Q và bà Nguyễn Thị A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Chi cục Thi hành án dân sự cùng cấp; - Ủy ban nhân dân xã/phường; - Lưu; hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Chủ tọa phiên tòa Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Thẩm phán THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Cẩm Hường |