- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thuỳ-Giang"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẮC NINH Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST Ngày 25- 8 - 2023 V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu và bà Dương Thị Ngần.
- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 25/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; xét xử sơ thẩm công khai vụ thụ lý số: 203/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 07 năm 2023, về việc ''Tranh chấp về hôn nhân và gia đình'', theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/8/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 22/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/8/2023 giữa:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thùy, sinh năm 1990 (Có mặt);
Địa chỉ: Thôn Duệ Khánh, xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Chỗ ở hiện nay: Thôn Sỏi, xã Tân Sỏi, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Giang, sinh năm 1980 (Vắng mặt);
HKTT: Thôn Duệ Khánh, xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị Thùy trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Giang, sinh năm 1980; HKTT: Thôn Duệ Khánh, xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 24/02/2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nội Duệ, huyện Tiên Du. Trước khi cưới hai bên có được tự nguyện tìm hiểu và không bị ép buộc. Sau ngày cưới chị có về làm dâu nhà anh Giang, chung sống với bố mẹ chồng tại thôn Duệ Khánh, xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Giang chơi cờ bạc, nghiện ma tuý, thiếu sự quan tâm chăm sóc gia đình. Vợ chồng sống ly thân được hơn 01 năm, không ai quan tâm đến ai. Khi ly thân chị đưa 02 con về Bắc Giang sinh sống. Mâu thuẫn hai bên gia đình có biết, có hoà giải cho vợ chồng về với nhau nhưng không được. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Giang.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh Hà, sinh ngày 06/4/2016 và cháu Nguyễn Quang Khải, sinh ngày 28/01/2019, hiện cả 02 con đang ở với chị tại nhà bố mẹ đẻ của chị tại Bắc Giang. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu Nguyễn Thanh Hà và cháu Nguyễn Quang Khải; về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Về điều kiện chỗ ở: Chị đang ở với bố mẹ đẻ, trường hợp ly hôn và được nuôi 02 con chung, bố mẹ chị đồng ý cho chị và hai cháu về ở chung.
Về thu nhập: Chị hiện đang kinh doanh online thu nhập 8.000.000 đồng/1 tháng đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngoài ra chị không có ý kiến gì khác.
Anh xác nhận lời trình bày của chị Phạm Thị Thuỳ về thời điểm, điều kiện kết hôn như chị Thuỳ trình bày là đúng. Sau ngày cưới chị Thuỳ có về làm dâu nhà anh, vợ chồng ăn chung với mẹ anh, tại thôn Duệ Khánh, xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Trong quá trình chung sống từ khi kết hôn đến nay hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì, khi chị Thùy đi Nhật về từ tháng 6 năm 2023 không về nhà anh ở và về quê sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại Bắc Giang, cùng với 2 con. Nay chị Thùy làm đơn xin ly hôn, anh không đồng ý. Đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng anh về với nhau.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như chị Thùy trình bày là đúng, hiện cả 02 cháu ở với chị Thùy. Trong trường hợp phải ly hôn anh đồng ý để chị Thùy chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung, vì anh đến tháng 11 năm 2023 đi xuất khẩu lao động nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn còn vắng mặt tại Toà án. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Đề nghị Toà án:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy, xử cho chị Phạm Thị Thùy được ly hôn với anh Nguyễn Văn Giang.
Về con chung: Giao hai con chung là cháu Nguyễn Thanh Hà, sinh ngày 06/4/2016 và cháu Nguyễn Quang Khải, sinh ngày 28/01/2019 cho chị Thùy trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Phạm Thị Thùy phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị Thùy có đơn xin ly hôn, theo đúng mẫu và nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định. Anh Nguyễn Văn Giang có địa chỉ tại thôn Duệ Khánh, xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
. Về nội dung vụ án: Chị Phạm Thị Thùy và anh Nguyễn Văn Giang kết hôn vào ngày 24/02/2011 trên cơ sở được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Khi kết hôn anh chị đủ điều kiện và tuân thủ đúng quy định pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Thùy và anh Nguyễn Văn Giang là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị Thùy cho rằng vợ chồng sống không hoà thuận đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2013, nguyên nhân là do anh Giang chơi cờ bạc, nghiện ma tuý, thiếu sự quan tâm chăm sóc gia đình. Còn anh Nguyễn Văn Giang cho rằng hai vợ chồng không có mâu thuẫn.
Tại phiên toà, chị Phạm Thị Thùy xác nhận đến nay không còn tình cảm với anh Nguyễn Văn Giang, chị kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị Thùy và anh Giang mâu thuẫn là có thật, chị Thuỳ kiên quyết xin ly hôn, anh Giang không đồng ý, tuy nhiên không có biện pháp gì giúp vợ chồng về với nhau, mâu thuẫn hai bên gia đình có biết, có hoà giải nhưng không được. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đến nay là trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân chỉ tồn tại trên hình thức. Chị Phạm Thị Thùy làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn Giang là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy, xử cho chị Phạm Thị Thùy được ly hôn với anh Nguyễn Văn Giang.
. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh Hà, sinh ngày 06/4/2016 và cháu Nguyễn Quang Khải, sinh ngày 28/01/2019, hiện cả 02 cháu đang ở với chị Thùy tại nhà bố mẹ đẻ của chị tại Bắc Giang. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu, trường hợp ly hôn anh Giang đồng ý để chị Thùy chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu. Về điều kiện chỗ ở: Chị Thùy đang ở với bố mẹ đẻ, chị Thùy đã được bố mẹ đẻ xác nhận về việc sau khi ly hôn thì sẽ cho chị Thùy và hai cháu về ở chung. Anh Giang hiện đang ở cùng mẹ đẻ. Về thu nhập: Chị Thùy hiện đang kinh doanh online thu nhập 8.000.000 đồng/1 tháng được UBND xã xác nhận. Còn anh Giang khai là lao động tự do, công việc không ổn định.
HĐXX xét thấy việc giao con chung cho ai cần đảm bảo cho các cháu có được điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập tốt nhất và ổn định nhất. Khi ly hôn chị Thùy xin nuôi cả 02 con chung, anh Giang đồng ý. HĐXX xét thấy về điều kiện về chỗ ở và thu nhập của Thùy là người có đủ điều kiện. Mặt khác hiện nay các cháu đang học tập ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Để ổn định cuộc sống cũng nhưng không làm ảnh hưởng đến việc học tập của các cháu, HĐXX quyết định giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh Hà và cháu Nguyễn Quang Khải cho chị Thùy tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Giang được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
. Về án phí: Chị Phạm Thị Thùy phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 235, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy. Chị Phạm Thị Thùy được ly hôn với anh Nguyễn Văn Giang.
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh Hà, sinh ngày 06/4/2016 và cháu Nguyễn Quang Khải, sinh ngày 28/01/2019 cho chị Phạm Thị Thùy trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Người trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Phạm Thị Thùy chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị Phạm Thị Thùy đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2021/0002520 ngày 12/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du).
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - UBND xã Nội Duệ (số 18/2011); - VKS huyện Tiên Du; - THADS huyện Tiên Du; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. Thùy trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Toà án giải quyết. dục con sau khi ly hôn. Người trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. quyết. Du). 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./. Các Hội thẩm nhân dân Trần Quang Lưu Dương Thị Ngần | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Mạnh Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh Hà, sinh ngày 06/4/2016 và cháu Nguyễn Quang Khải, sinh ngày 28/01/2019 cho chị Phạm Thị Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Không yêu cầu Tòa án giải Về án phí: Chị Phạm Thị Thùy chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị Phạm Thị Thùy đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2021/0002520 ngày 12/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Mạnh |