vanban.org

Bản án 36/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn T ly hôn chị Nguyễn Thị N.

Về con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn T - Nguyễn Thị N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn T ly hôn chị Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PL
TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/4/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL– TỈNH BL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Như

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hồng Lành

2. Ông Huỳnh Quốc Khuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh BL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, tỉnh BL tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện PLxét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp M, xã PTTA, huyện PL, tỉnh BL. (Vắng mặt)

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp M, xã PTTA, huyện PL, tỉnh BL. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai có T hồ sơ vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị N tự nguyện sống chung từ năm 1999, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PTTA. Vợ chồng anh vẫn sống chung nhà nhueng không ai quan tâm đến ai từ tháng 6 năm 2022 đến nay do không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn và không còn tình cảm. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị N.

Về con chung: Anh T và chị N có một người con chung là Nguyễn Trí T, sinh năm 2001, hiện đã thành niên, có đủ khả năng lao động để tự nuôi sống mình, nên anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án chị Nguyễn Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Thời gian sống chung, đăng ký kết hôn và mâu thuẫn hôn nhân như anh T trình bày là đúng. Nay anh T yêu cầu ly hôn thì chị N không đồng ý ly hôn do chị N còn thương anh T, chị N muốn hàn gắn hôn nhân với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có một người con chung như anh T trình bày là đúng. Hiện đã thành niên, có đủ khả năng lao động để tự nuôi sống mình, chị N thống nhất với anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho anh T được ly hôn với chị N.

+ Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Anh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị N, chị N đang cư trú trên địa bàn huyện PL nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện PL thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Chị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh T và chị N là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Anh T và chị N tự nguyện sống chung từ năm 1999 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị N là hôn nhân hợp pháp, tuy nhiên T quá trình sống chung anh T và chị N xảy ra mâu thuẫn mà không hàn gắn được. Xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, sống chung với nhau nhưng anh T và chị N không quan tâm đến nhau. Chị N xác định còn thương anh T nên muốn hàn gắn hôn nhân, nhưng chị N không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn hôn nhân. Mặt khác, tại biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án, chị N xác định anh T thường xuyên đi vắng nhà mà mỗi khi anh T về là chị và anh T cự cãi với nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc và chị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng chị N không đến, cho thấy chị N đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Trong khi đó, anh T xác định không còn tình cảm với chị N và cương quyết ly hôn. Từ đó cho thấy hôn nhân của anh T và chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T, cho anh T được ly hôn với chị N.

Về con chung: Anh T và chị N thống nhất có một người con chung là Nguyễn Trí T, sinh năm 2001. Anh T và chị N xác định do cháu T đã thành niên, có khả năng lao động để tự nuôi sống mình, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị N không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 19, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn T ly hôn chị Nguyễn Thị N.

2. Về con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh T đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005671 ngày 07/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PL nên được chuyển sang thu án phí.

Chị Nguyễn Thị N không phải chịu án phí.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ