- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nghiêm Thị L - Hoàng Cao Đ"
- Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Nghiêm Thị L và anh Hoàng Cao Đ.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/6/2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Anh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự và bà Phạm Thị Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ninh, thư ký Tòa án nhân dân huyện K - tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Ninh Trọng Khánh, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai vụ án thụ lý số 101/2023/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 6 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nghiêm Thị L, sinh năm 1994; ĐKHKTT và trú tại: Xóm 2, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình (có mặt).
- Bị đơn: Anh Hoàng Cao Đ, sinh năm 1992; ĐKHKTT: Xóm 2, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Hiện cư trú tại: Xóm 1, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về phía nguyên đơn chị Nghiêm Thị L trong đơn khởi kiện ngày 24/04/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Chị và anh Hoàng Cao Đ kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn năm 2013 tại UBND xã K, huyện K, là quê của anh chị. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xóm 2, xã K. Vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn, vì mâu thuẫn nên chị và anh Đ đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay.
Theo chị Nghiêm Thị L nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh Đ chơi bời, đánh đập, xúc phạm chị. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Chị và anh Đ đã sống ly thân từ năm 2022, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Đ để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị Nghiêm Thị L xác định vợ chồng chị có 2 con chung là Hoàng Bảo N, sinh ngày 16/5/2013 và Hoàng Chấn T, sinh ngày 5/10/2015. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Đ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị. Trường hợp anh Đ mong muốn được nuôi 01 con chung thì chị sẽ đồng ý để anh Đ nuôi cháu Thành, chị nuôi cháu Nam. Hai bên không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản: Chị Nghiêm Thị L xác định vợ chồng chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Hoàng Cao Đ trong bản tự khai ngày 25/6/2023 và quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Về thời gian, điều kiện kết hôn, anh nhất trí như chị L đã trình bày. Do đi làm ăn kinh tế ở Hà Nội chị L có quan hệ ngoài luồng với người khác. Khi anh biết được đã nói chuyện và khuyên nhủ nhưng chị L vẫn không thay đổi vì vậy cuộc sống vợ chồng không hòa hợp không còn tiếng nói chung. Nay chị L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh, anh đồng ý ly hôn vì vợ chồng không còn tin tưởng không còn tình cảm với nhau.
Về con chung: Anh Đ cũng xác nhận vợ chồng có 2 con chung là Hoàng Bảo N, sinh ngày 16/5/2013 và Hoàng Chấn T, sinh ngày 5/10/2015. Hiện cháu T đang ở với anh và cháu N ở với chị L. Khi ly hôn anh yêu cầu tiếp tục nuôi cháu T, cô L nuôi cháu N và không ai phải đóng góp tiền nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung: Anh Đ và chị L sẽ tự thỏa thuận tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các con chung của vợ chồng là Hoàng Bảo N, sinh ngày 16/5/2013 và Hoàng Chấn T, sinh ngày 5/10/2015; thuộc trường hợp được Tòa án hỏi ý kiến khi bố mẹ ly hôn thì cháu N có nguyện vọng được ở với chị L, còn cháu T có nguyện vọng được ở với anh Đ khi bố mẹ ly hôn.
Tại phiên tòa chị L giữ nguyên quan điểm khởi kiện, anh Đ vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt anh.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về tố tụng: nguyên đơn và bị đơn, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110, 116, 118 Luật HNGĐ; Điều 147, 228 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14:
Xử ly hôn giữa chị Nghiêm Thị L và anh Hoàng Cao Đ; giao chị Nghiêm Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hoàng Bảo N, sinh ngày 16/5/2013; giao anh Hoàng Cao Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hoàng Chấn T, sinh ngày 5/10/2015. Chị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nghiêm Thị L khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn với anh Hoàng Cao Đ, tạm trú tại: Xóm 1, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; căn cứ quy định tại điều 28 và 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện K.
Bị đơn anh Hoàng Cao Đ đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, hợp L , anh Đ đã có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 8/5/2023, căn cứ Điều 227 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nghiêm Thị L và anh Hoàng Cao Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2013 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật HNGĐ. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận một thời gian thì mới phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị L xác định do anh Đ chơi bời, đánh đập, xúc phạm chị. Chị đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh Đ không thay đổi, không có kết quả. Từ đầu năm 2022 chị và anh Đ đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai.
Về phía anh Đ, anh cho rằng việc vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do đi làm ăn kinh tế ở Hà Nội chị L có quan hệ ngoài luồng với người khác. Khi anh biết được đã nói chuyện và khuyên nhủ nhưng chị L vẫn không thay đổi vì vậy cuộc sống vợ chồng không hòa hợp không còn tiếng nói chung. Nay chị L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh, anh đồng ý ly hôn vì vợ chồng không còn tin tưởng không còn tình cảm với nhau.
Xác minh tình trạng hôn nhân của anh chị tại UBND xã K là nơi anh chị cư trú; thì chính quyền địa phương xác nhận do mâu thuẫn vợ chồng nên thời gian gần đây anh và chị không còn chung sống với nhau nữa, về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn thì địa phương không nắm rõ.
Như vậy mặc dù hai bên trình bày nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là khác nhau nhưng cả chị L và anh Đ đều xác nhận vợ chồng do mâu thuẫn không giải quyết được nên không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2022. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện cho các bên có thời gian hòa giải, suy nghĩ nhưng không có kết quả; anh chị đều không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng; đều mong muốn được giải quyết ly hôn.
Từ những phân tích nêu trên đã có đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị L và anh Đ hiện nay đã trầm trọng, mâu thuẫn không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống chung; căn cứ quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình, yêu cầu của chị L giải quyết ly hôn anh Đ là có căn cứ được chấp nhận.
Về quan hệ con chung : Chị L và anh Đ đều xác nhận vợ chồng có 2 con chung là chồng là Hoàng Bảo N, sinh ngày 16/5/2013 và Hoàng Chấn T, sinh ngày 5/10/2015.
Khi ly hôn, chị L ban đầu yêu cầu được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Đ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con nếu anh Đ mong muốn được nuôi 01 con chung thì chị sẽ đồng ý để anh Đ nuôi cháu T, chị nuôi cháu N. Hai bên không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho nhau.Về phía anh Đ cũng có quan điểm yêu cầu được nuôi một con chung đồng ý với đề xuất thứ hai của chị L, giao cho anh nuôi cháu T, chị L nuôi cháu N.
Cháu N và T khi được Tòa án hỏi ý kiến thì cháu N có nguyện vọng được ở với chị L, còn cháu T có nguyện vọng được ở với anh Đ khi bố mẹ ly hôn. Do vậy cần giao cháu và Hoàng Chấn T, sinh ngày 5/10/2015 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Hoàng Bảo N, sinh ngày 16/5/2013 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên không phải đóng góp tiền cấp dưỡng là phù hợp.
[ 4] Về tài sản chung: Chị Nghiêm Thị L và anh Hòang Cao Đ đều xác định không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét
Về án phí: Căn cứ quy định tại điều 147 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 buộc chị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110, 116, 118 Luật HNGĐ; Điều 147, 228 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 quy định về án phí, L phí Tòa án.
1. Xử ly hôn giữa chị Nghiêm Thị L và anh Hoàng Cao Đ.
2. Về con chung: giao chị Nghiêm Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của vợ chồng là Hoàng Bảo N, sinh ngày 16/5/2013; giao anh Hoàng Cao Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của vợ chồng Hoàng Chấn T, sinh ngày 5/10/2015. Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
3. Về án phí: Chị Nghiêm Thị L phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA 4919 ngày 25/04/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - UBND xã K; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thế Anh |