vanban.org

Bản án 36/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị B đối với anh Ngô Văn T.

Về con chung: Giao cháu Ngô Bé B, sinh ngày 09/5/2008 cho anh Ngô Văn T nuôi dưỡng, chăm sóc giao dục; Giao cháu Ngô Mỹ V, sinh ngày 20/11/2010 cho chị Cao Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Ngô Văn T, chị Cao Thị B có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thị B - Ngô Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị B đối với anh Ngô Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐH
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24 – 03 – 2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ghết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tâm

2. Ông Lê Văn Lil

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐH.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Châu Hoa Đăng – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 567/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Cao Thị B, sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp MT, xã AP, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Anh Ngô Văn T, sinh năm 1986

Địa chỉ: Ấp MT, xã AP, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

(nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Cao Thị B trình bày: Chị và anh Ngô Văn T xây dựng hôn nhân năm 2008; Vợ chồng chị có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã AP, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

Trong thời gian chung sống vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Ngô Bé B, sinh ngày 09/5/2008 và Ngô Mỹ V, sinh ngày 20/11/2010. Hiện cháu Ngô Bé B đang sống cùng anh T, cháu Ngô Mỹ V đang ở cùng chị.

Trong thời gian chung sống vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn do không hợp tính tình, không còn tình cảm với nhau nữa. Chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Ngô Văn T. Về con chung chị yêu cầu nuôi cháu Ngô Mỹ V; Cháu Ngô Bé B chị đồng ý giao cho anh Ngô Văn T nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục; chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh Ngô Văn T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Em Ngô Mỹ V trình bày nguyện vọng được sống cùng mẹ là chị Cao Thị B. Em Ngô Bé B trình bày nguyện vọng được sống cùng cha là Ngô Văn T. Đây là ý chí tự nguyện của em Ngô Bé B và Ngô Mỹ V, không ai ép buộc.

Ý kiến của kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các quyết định nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung: Đề nghị căn cứ Điều 28, Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Thị B đối với anh Ngô Văn T; Tiếp tục giao cháu cháu Ngô Bé B, sinh ngày 09/5/2008 cho anh Ngô Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Giao cháu Ngô Mỹ V, sinh ngày 20/11/2010 cho chị Cao Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thủ tục tố tụng: Chị Cao Thị B và anh Ngô Văn T có địa chỉ thường trú tại ấp MT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ĐH. Chị Cao Thị B có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Ngô Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Cao Thị B và anh Ngô Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị B và anh Ngô Văn T có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hôn nhân giữa chị Cao Thị B và anh Ngô Văn T là tự nguyện và hợp pháp. Chị B xác định hiện nay hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không còn quan tâm lẫn nhau và đã không còn yêu thương nhau. Hôn nhân giữa chị Cao Thị B và anh Ngô Văn T đã xảy ra mâu thuẫn trong thời gian dài nhưng chị Cao Thị B và anh Ngô Văn T đã không thể hàn gắn được. Thực tế chị Cao Thị B và anh Ngô Văn T đã sống ly thân với nhau từ năm 2021 đến nay. Xét thấy đời sống hôn nhân giữa chị và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị B đối với anh Ngô Văn T.

Về con chung: Xét yêu cầu của chị Cao Thị B yêu cầu được nuôi cháu Ngô Mỹ V, sinh ngày 20/11/2010 và giao cháu Ngô Bé B, sinh ngày 09/5/2008 cho anh Ngô Văn T nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu Ngô Bé B đang sống ổn định cùng anh Ngô Văn T và Ngô Mỹ V đang sống ổn định cùng chị Cao Thị B; anh Ngô Văn T không có ý kiến gì về việc này. Đồng thời cháu Ngô Bé B có nguyện vọng được sống cùng anh Ngô Văn T và Ngô Mỹ V có nguyện vọng được sống với chị Cao Thị B. Mặc khác, để không làm xáo trộn cuộc sống cũng như ảnh hưởng đến tâm lý của cháu Ngô Bé B và Ngô Mỹ V, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Cao Thị B, tiếp tục giao cháu Ngô Bé B, sinh ngày 09/5/2008 cho anh Ngô Văn T nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục; Giao cháu Ngô Mỹ V, sinh ngày 20/11/2010 cho chị Cao Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Ngô Văn T, chị Cao Thị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị Cao Thị B, anh Ngô Văn T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Cao Thị B xác định không có nợ chung và tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Cao Thị B phải chịu án phí sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228,Điều 238; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị B đối với anh Ngô Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Ngô Bé B, sinh ngày 09/5/2008 cho anh Ngô Văn T nuôi dưỡng, chăm sóc giao dục; Giao cháu Ngô Mỹ V, sinh ngày 20/11/2010 cho chị Cao Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Ngô Văn T, chị Cao Thị B có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng: Chị Cao Thị B, anh Ngô Văn T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Chị Cao Thị B phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Chị Bé đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009591 ngày 07/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐH được chuyển thu án phí.

4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ