vanban.org

Bản án 36/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị P.

Tuyên xử: Cho bà Trần Thị P ly hôn với ông Thạch N. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của em Thạch T, sinh ngày 30/7/2015, tự nguyện sống chung với mẹ bà Trần Thị P, ông Thạch N không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH V
_________________________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11- 4 -2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH V

-Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Hồng Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thúy Liễu

Ông Võ Văn Phương

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huê, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh V.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Thanh, kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 202/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1985

Địa chỉ: ấp Cầu Tre, xã C, huyện Tiểu Cần, tỉnh V.

-Bị đơn: Ông Thạch N, sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp B, xã Đa Lộc, huyện T, tỉnh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Trần Thị P là nguyên đơn trình bày: Vào năm 2014 bà với ông Thạch N kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Tiểu Cần, tỉnh V. Quá trình chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn gia đình không hàn gắn được, nên hai người phải sống ly thân đến nay.

Về con chung: Có 01 con chung tên Thạch T, sinh ngày 30/7/2015.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có tranh chấp

Nay bà Trần Thị P yêu cầu xin ly hôn với ông Thạch N, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu ông Thạch N cấp dưỡng.

Quan điểm của Kiểm sát viên về tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, hòa giải, cấp tống đạt Văn bản tố tụng và thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Đối với các đương sự; nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Nhận thấy, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn gia đình do ông Thạch N ăn chơi sa đọa, quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, từ đó mâu thuẩn gia đình ngày càng trầm trọng không hàn gắn được.

Xét đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị P là có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Cho bà Trần Thị P ly hôn với ông Thạch N.

Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của em Thạch T, sinh ngày 30/7/2015, tự nguyện sống chung với mẹ bà Trần Thị P.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà Trần Thị P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do; căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

Về quan hệ tranh chấp: Vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Nhận thấy, do có tìm hiểu quen biết trước và được sự chấp thuận của cha mẹ hai bên, bà Trần Thị P với ông Thạch N quyết định xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp.

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai tại tòa bà Trần Thị P khai: Sau khi kết hôn về chung sống vợ chồng có cuộc sống rất hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn gia đình không hàn gắn được, nguyên nhân do ông Thạch N không lo làm ăn phụ giúp gia đình, mà chỉ biết ăn chơi sa đọa và quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, mặc dù bà có khuyên ngăn nhiều lần nhưng tính tình ông Thạch N vẫn không thay đổi, bà Trần Thị P yêu cầu xin được ly hôn với ông Thạch N và yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Đối với ông Thạch N là bị đơn trong vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Thạch N vẫn cố tình vắng mặt không rõ lý do, như vậy mặc nhiên ông Thạch N đã thống nhất ly hôn với bà Trần Thị P.

Riêng em Thạch T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và có nguyện vọng sống chung với mẹ, ngoài ra em không có yêu cầu gì khác.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với quy định của pháp luật, có cơ sở chấp nhận.

Xét thấy trong quá trình chung sống mâu thuẫn gia đình giữa bà Trần Thị P với ông Thạch N ngày càng trầm trọng, không hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Căn cứ các Điều 53, 58 Luật hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị P.

Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của em Thạch T, sinh ngày 30/7/2015, tự nguyện sống chung với mẹ bà Trần Thi P.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có tranh chấp

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Trần Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia

đình.

Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị P.

Tuyên xử: Cho bà Trần Thị P ly hôn với ông Thạch N.

Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của em Thạch T, sinh ngày 30/7/2015, tự nguyện sống chung với mẹ bà Trần Thị P, ông Thạch N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn ông Thạch N đươc quyền tới thăm, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có tranh chấp

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Trần Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0014595 ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho các đương sự biết, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận: -TAND tỉnh V; -VKSND huyện T; -THADS huyện T; -Ủy ban nhân dân xã nơi ĐKKH; -Các đương sự; -Lưu.

Diệp Hồng Tân

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ