- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Hoàng Y được ly hôn Việtới anh Huỳnh ĐìnhV.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân Việtà gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 36/2023/HNGĐ – ST Ngày: 19/5/2023 VIỆT/Việt " Ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lưu Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận
Ông Trần Đức Hoà
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện VIỆTiện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng: Bà Đàm Thị Thuỷ, chức Việtụ Kiểm sát Việtiên.
Trong ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước; xét xử sơ thẩm công khai Việtụ án Hôn nhân gia đình thụ lý thụ lý số: 04/HNGĐ-ST, ngày 10 tháng 01 năm 2023; theo Quyết định đưa Việtụ án ra xét xử 75/2023/QĐST - HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1992 ( có mặt)
Bị đơn: anh Huỳnh Đình V; sinh năm 1989 ( vắng mặt) Cùng cư trú tại: thôn 3, xã M, huyện B, tỉnh P.
TÓM TẮT NỘI DUNGVIỆTỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/11/2022 quá trình thụ lý nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày: Chị Nguyễn Thị Hoàng Y và anh Huỳnh Đình V tự nguyện chung sống từ năm 2009, tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh P; vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, nguyên nhân do vợ chồng không hoà hợp, không cùng quan điểm sống, anh V tham gia chơi cờ bạc ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi, xúc phạm lẫn nhau, anh V có hành động đập phá tài sản trong gia đình. Hiện nay chị Y thấy không còn tình cảm với anh V nên chị Y yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết cho chị Y được ly hôn với anhV.
Về con chung: Có 02 con chung là các cháu Huỳnh Ngọc Q, sinh ngày 28/4/2010; cháu Huỳnh Đình V, sinh ngày 20/3/2018. Sau khi ly hôn chị Y có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Q và V cho đến khi các cháu thành niên, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Bị đơn anh Huỳnh Đình V: Toà án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng và giấy triệu tập cho anhV hợp lệ nhưng anhV không thực hiện, không chấp hành giấy triệu tập của toà án; không giao nộp bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì, không trình bày ý kiến gì cho toà án.
Về tài liệu, chứng cứ: Nguyên đơn nộp tài liệu, chứng cứ như trong hồ sơ Việtụ án; ngoài ra không giao nộp gì thêm. Bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của bộ Luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được ly hôn của nguyên đơn; Về con chung giao các cháu Huỳnh Ngọc Q, sinh ngày 28/4/2010; cháu Huỳnh Đình V, sinh ngày 20/3/2018 cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thoả thuận, không yêu cầu toà án giải quyết; Về nợ chung không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của chị Y và giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, xác định được chị Nguyễn Thị Hoàng Y và anh Huỳnh Đình V tự nguyện kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Bù Đ, tỉnh P phù hợp với giấy chứng nhận kết hôn đã được chị Y giao nộp hợp pháp tại Tòa án. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hoàng Y và anh Huỳnh ĐìnhV là hợp pháp.
Về mâu thuẫn gia đình: Theo lời khai của chị Y cho rằng giữa chị và anhV có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình, lối sống, quan điểm sống không hợp từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, anhV có hành động đập phá tài sản trong nhà, có lời lẽ xúc phạm chị, làm mất tình cảm; hiện nay chị Y yêu cầu được ly hôn, phía anhV không hợp tác làm việc tại toà án, không thể hiện ý kiến, nguyện vọng của mình, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Căn cứ vào lời khai của người làm chứng xác định được giữa chị Y và anhV có xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau, không tôn trọng nhau, đập tài sản. Như vậy, có căn cứ xác định giữa anhV và chị Y là có mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y.
VIỆTề con chung: Căn cứ vào lời khai của chị Y và giấy khai sinh do chị Y cung cấp, xác định được giữa anhV và chị Y có 02 con chung là các cháu Huỳnh Ngọc Q, sinh ngày 28/4/2010; cháu Huỳnh Đình V, sinh ngày 20/3/2018, ly hôn chị Y có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 cháu Q và V cho đến khi các cháu thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Lời khai của cháu Q có nguyện vọng được chung sống với mẹ, khi ba và mẹ ly hôn; cháu V còn nhỏ cần có sự chăm sóc chu đáo của người mẹ, phía anh V không hợp tác làm việc tại toà án không thể hiện chính kiến của mình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị Y, giao các cháu Huỳnh Ngọc Q, sinh ngày 28/4/2010; cháu Huỳnh Đình V, sinh ngày 20/3/2018 cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: theo nguyên đơn không yêu cầu toà án giải quyết.
Về nợ chung: theo nguyên đơn không có.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 131 của bộ Luật Tố tụng dân sự đương sự phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.
VIỆTì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Việtào các Điều 51; Điều 56, 81, 82 của Luật hôn nhân Việtà gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266 và Điều 273 bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/ UBTVIỆTQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý Việtà sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Hoàng Y được ly hôn Việtới anh Huỳnh ĐìnhV.
[2] Về con chung: Giao các cháu Huỳnh Ngọc Q, sinh ngày 28/4/2010; cháu Huỳnh Đình V, sinh ngày 20/3/2018 cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. AnhV có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo qui định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
[3] Về tài sản chung: không yêu cầu toà án giải quyết.
[4] Về nợ chung: không có.
[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hòang Y nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0000847, ngày 10/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 Việtà 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án không tự giác thi hành, thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với thời gian và số tiền chậm thực hiện.
[6] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Đăng; - Chi cục THADS huyện Bù Đăng; - Các đương sự; - UBND xã, T.tr; - Lưu hồ sơ Vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LƯU THÙY LINH |