vanban.org

Bản án 36/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Huyền Tr về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L.

Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho bà Đặng Thị Huyền Tr số tiền vay 518.000.000 đồng (Năm trăm mười tám triệu đồng). Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Đặng Thị Huyền Tr tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Huyền Tr về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật thi hành án Biên bản nghị án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/DS-ST
Ngày: 12-5-2023
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Phong.

2. Ông Nguyễn Tấn Tiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Vào ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Huyền Tr, sinh năm 1980; Địa chỉ: 65 Khu 1 Ô2 thị trấn Th, huyện TT, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn Tr, sinh năm 1991; Địa chỉ liên hệ: ấp Bình Cang 1, xã BT, huyện TT, tỉnh Long An, hợp đồng ủy quyền ngày 01/02/2023.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1978 và bà Ngô Thị L, sinh năm 1986; Cùng địa chỉ: 3/60 Khu 3 Ô2 thị trấn Th, huyện TT, tỉnh Long An.

(Ông Tr vắng mặt có đơn xin vắng mặt, ông D, bà L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/02/2023, trong quá trình giải quyết vụ án đại diện cho nguyên đơn Ông Hoàng Văn Tr trình bày:

Giữa bà Tr và bà Ngô Thị L có quen biết nhau nên bà L nhiều lần mượn tiền của bà Tr. Khi vay tiền ông D (chồng bà L) đều có mặt, biết mục đích việc tiền vay này của bà L về làm ăn, trang trải chi tiêu trong gia đình. Tính đến ngày 05/11/2022 (âm lịch) bà L và bà Tr đã ngồi tính toán lại và có viết giấy ghi nhận việc bà L nợ bà Tr số tiền 518.000.000 đồng (Năm trăm mười tám triệu đồng). Hai bên có làm giấy tay, thỏa thuận mỗi ngày bà L phải hoàn trả cho bà Tr số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Tuy nhiên từ ngày vay tiền và ghi giấy nợ đến nay bà L, ông D không thanh toán cho bà Tr số tiền gốc và lãi như hai bên thỏa thuận. Ngoài ra bà Tr cũng đã 03 lần thông báo gửi đến nhà bà L, ông D yêu cầu bà L, ông D trả nợ tuy nhiên nhận được thông báo thì bà L, ông D không thanh toán khoản nào cho bà Tr.

Vì vậy bà Tr làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xem xét giải quyết buộc bà Ngô Thị L, ông Nguyễn Văn D liên đới trả cho bà Tr số tiền 518.000.000 đồng (Năm trăm mười tám triệu đồng), bà Tr không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có bản tự khai.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L, thông báo cho ông D, bà L biết Tòa án có thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vay theo đơn khởi kiện của bà Tr nhưng ông D, bà L không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án về việc khởi kiện của bà Tr.

Vụ án được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng ông D, bà L vắng mặt. Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Đặng Thị Huyền Tr khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L có trách nhiệm hoàn trả số tiền vay là 518.000.000 đồng (Năm trăm mười tám triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L có hộ khẩu thường trú tại thị trấn Th, huyện TT, tỉnh Long An. Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Căn cứ theo yêu cầu của đương sự xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không tiến hành hoà giải được do bị đơn vắng mặt. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa vắng mặt ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L nhưng xét thấy ông D, bà L đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, về phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, về thời gian xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa vắng mặt ông Hoàng Văn Tr là người đại diện theo ủy quyền cho bà Tr nhưng ông Tr có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với ông Tr, ông D, bà L là phù hợp với Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Bà Đặng Thị Huyền Tr khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L có trách nhiệm liên đới hoàn trả tổng số tiền vay 518.000.000 đồng (Năm trăm mười tám triệu đồng).

Xét lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Giữa bà Tr và bà Ngô Thị L có quen biết nhau nên bà L nhiều lần mượn tiền của bà Tr. Khi vay tiền ông D (chồng bà L) đều có mặt, biết mục đích việc tiền vay này của bà L về làm ăn, trang trải chi tiêu trong gia đình. Tính đến ngày 05/11/2022 (âm lịch) bà L và bà Tr đã ngồi tính toán lại và có viết giấy ghi nhận việc bà L nợ bà Tr số tiền 518.000.000 đồng (Năm trăm mười tám triệu đồng). Hai bên có làm giấy tay, thỏa thuận mỗi ngày bà L phải hoàn trả cho bà Tr số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng. Tuy nhiên từ ngày vay tiền và ngày ghi giấy nợ đến nay bà L, ông D không thanh toán cho bà Tr số tiền gốc và lãi như hai bên thỏa thuận. Ngoài ra bà Tr cũng đã 03 lần thông báo gửi đến nhà bà L, ông D yêu cầu bà L, ông D trả nợ tuy nhiên nhận được thông báo thì bà L, ông D không thanh toán khoản nào cho bà Tr.

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L vắng mặt. Ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L có hộ khẩu thường trú tại Khu 3 Ô2 thị trấn Th, huyện TT, tỉnh Long An. Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà và các chứng cứ mà bên nguyên đơn cung cấp, ông D, bà L đã được thông báo đầy đủ thông tin về vụ kiện và quá trình giải quyết vụ án của Toà án nhưng vẫn vắng mặt là không chấp hành thông báo của Toà án, đồng thời mặc nhiên thừa nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chứng cứ bên nguyên đơn cung cấp.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 05/11/2022 (âm lịch) buộc ông D, bà L có trách nhiệm hoàn trả cho bà Tr số tiền vay 518.000.000 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bà Tr không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án.

Bà Đặng Thị Huyền Tr không phải chịu án phí, hoàn lại tiền tạm ứng án phí mà bà Tr đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Huyền Tr về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L.

Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho bà Đặng Thị Huyền Tr số tiền vay 518.000.000 đồng (Năm trăm mười tám triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị L phải nộp 24.720.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Đặng Thị Huyền Tr 12.360.000 đồng tiền tạm ứng phí theo biên lai thu số 0002918 ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ