- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2022/HSST Ngày 04/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lực.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Thu và ông Nguyễn Hà Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Phúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Đình, Kiểm sát viên.
Ngày 04/8/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình; xét xử công Ki vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2022/TLST-HS ngày 08/7/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐXXST-HS ngày 21/7/2022 đối với bị cáo:
Vũ Văn K sinh năm 1977; tại thị xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú thôn D, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 3/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Vũ Công H (đã chết) và bà Lưu Thị B; vợ Trần Thị T và có 03 con. Tiền án không; tiền sự ngày 20/11/2020 bị UBND huyện Y xử phạt 30.500.000 đồng về hành vi khai thác trái phép cát và điều khiển tàu hàng khi không có chứng chỉ lái phương tiện. Lịch sử bản thân ngày 01/5/2020 bị UBND xã Khánh Thành xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi Ki thác trái phép khoáng sản, ngày 25/9/2020 bị Công an xã C xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/3/2022 đến ngày 07/4/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay; có mặt.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị T1 sinh năm 1979; địa chỉ thôn D, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Tô Văn H sinh năm 1978; vắng mặt.
- Anh Phạm Văn D sinh năm 1972; vắng mặt.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn K là người sử dụng ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 29/3/2022 K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29N3-0333 đến khu vực xã H, huyện K mua của một người không quen biết 01 gói ma túy được gói bằng giấy vở học sinh với số tiền là 200.000 đồng. K bỏ gói ma túy vào túi áo khoác rồi điều khiển xe mô tô đi lên huyện Y. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày khi K đi đến xóm 8, xã Khánh Thủy thì gặp tổ công tác của Công an huyện Y đang làm nhiệm vụ, K quay xe định bỏ chạy; tổ công tác thấy có nghi vấn nên đã giữ K lại. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra thu giữ trong túi áo khoác của K đang mặc một gói nhỏ được gói bằng giấy vở học sinh bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, K Ki nhận đó là ma túy, K mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói nhỏ giấy vở học sinh bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu M.
Cơ quan điều tra Công an huyện Y tiến hành mở niêm phong và cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ của K: Gói ký hiệu M khối lượng cả bì là 0,39 gam, khối lượng bì là 0,25 gam, khối lượng chất bột dạng cục màu trắng là 0,14 gam, sau đó niêm phong lại ký hiệu M1.
Cơ quan điều tra Công an huyện Y gửi gói ký hiệu M1 bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của K để giám định. Kết luận giám định số 255/KL-KTHS-MT ngày 06/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1416 gam là ma túy, loại Heroine; Heroine là chất ma túy thuộc danh mục I, số thứ tự 9 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Cáo trạng số 37/CT-VKSYK ngày 07/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo K như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo K từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/3/2022.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy gồm 0,1040 gam ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 mảnh giấy vở học sinh thu giữ ban đầu của K + vỏ phong bì thư ký hiệu M. Trả lại cho chị T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 29N3-0333.
Bị cáo K Ki: Ngày 29/3/2022 K mua ma túy để sử dụng, khi đi đến xóm 8, xã Khánh Thủy thì gặp tổ công tác của Công an Y đã kiểm tra và thu giữ toàn bộ số ma túy của K. Nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người làm chứng đều không có khiếu nại gì; nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng pháp luật. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Lời Ki của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời Ki của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời Ki của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi của bị cáo và vật chứng đã thu giữ, nên có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/3/2022 tại đường trục thuộc địa phận xóm 8, xã Khánh Thủy, tổ công tác của Công an xã Y đã kiểm tra và thu giữ trong túi áo khoác của K đang mặc 01 gói nhỏ được gói bên ngoài bằng giấy vở học sinh, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. K Ki nhận đó là ma túy K mua về để sử dụng. Theo kết luận giám định tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của K là 0,1416 gam là ma túy, loại Heroine.
Hành vi của bị cáo K là trái pháp luật, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy đinh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
......
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo K không có tình tiết tăng nặng. Về giảm nhẹ, bị cáo “Thành khẩn Ki báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo; để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung; bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ, nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh thể hiện, bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Vật chứng đã thu giữ gồm “0,1416 gam là ma túy, loại Heroine; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh biển kiểm soát 29N3-0333, số khung 5HU3-02978 số máy 5HU3-02978”.
- Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biển kiểm soát 29N3-0333, số khung 5HU3-02978 số máy 5HU3-02978 kết quả điều tra xác định là tài sản của vợ chồng K và chị T1. K không sử dụng xe mô tô để tàng trữ ma túy, bị cáo và chị T1 đề nghị trả lại cho chị T1, nên trả lại cho chị T1.
- Đối với 0,1416 gam là ma túy, loại Heroine; sau giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình chỉ hoàn lại 0,1040 gam; 01 mảnh giấy vở học sinh thu giữ ban đầu của K; vỏ phong bì thư niêm phong ký hiệu M và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; tất cả tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo K bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Vũ Văn K 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/3/2022.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy gồm 0,1040 gam ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong, được niêm phong trong phong bì Công an tỉnh Ninh Bình bên ngoài có ghi nội dung “Số 55/KLGĐ-PC09-MT mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Vũ Văn K”; 01 mảnh giấy vở học sinh thu giữ ban đầu của K + vỏ phong bì thư ký hiệu M được niêm phong trong phong bì Công an huyện Y ký hiệu N.
- Trả lại cho chị Trần Thị T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biển kiểm soát 29N3-0333, số khung 5HU3-02978 số máy 5HU3-02978.
Tất cả vật chứng có đặc điểm tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/7/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Vũ Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình - VKSND tỉnh Ninh Bình - VKSND huyện Y - Bị cáo, - Chi cục THA - Công an huyện Y - Lưu hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Lực |