vanban.org

Bản án 36/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 08/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận mộ t phầ n kháng cáo của bị cáo Nguyễ n Ngọ c D – Sử a bản án

sơ thẩm về hì nh phạ t; Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận mộ t phầ n kháng cáo của bị cáo Nguyễ n Ngọ c D – Sử a bản án
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HS-PT
Ngày: 08/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Thẩm phán: Bà Vũ Ngọc Hà và bà Đậu Thị Quy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đông – Kiểm sát viên Trung cấ p.

Ngày 08 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 29/2022/TLPT-HS ngày 28 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc D, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2022/HS-ST ngày 21/3/2022 của Tòa án nhân dân thị xã SC, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1977; tại tỉnh QN. Nơi cư trú: Thôn HPT, xã HT, huyện NH, tỉnh QN; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hó a (học vấn): 5/12; con ông Nguyễn H, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955; có vợ Huỳnh Thị H, sinh năm 1976 và 02 con, lớ n sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người bào chữa của bị cáo Nguyễ n Ngọ c D : Ông Lê Văn Cao và bà Trần Thị Hậu – Đề u là Luật sư, Công ty Luật hợp danh FDVN thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: Số 99 Nguyễn Hữu Thọ, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; có đơn xin xé t xử vắ ng mặ t, nThanh H có gửi bài bào chữa và đượ c bị cá o đồ ng ý .

- Đạ i diệ n hợ p phá p củ a bị hạ i Nguyễ n Thị Thu H (đã chế t) có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cá o : 07 ngườ i đề u ủ y quyề n cho ông Tô D L, sinh năm 1992. Nơi cư trú : Thôn QM, xã HMT, huyệ n Tây Hò a , tỉnh Phú Yên làm đạ i diệ n; văn bả n ủ y quyề n cá c ngà y 21,22,28/01/2021; vắ ng mặ t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 12/01/2021, Nguyễn Ngọc D có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 76C-056.79 lưu hành trên Quốc lộ 1A theo hướng Bắc – Nam, trên xe có Đặng Thanh H ngồi ở ghế phụ. Khi đến đoạn đường lên dốc ĐN tại Km1259+500m, Quốc lộ 1A thuộc thôn HH, xã XT, thị xã SC, D điều khiển tay lái cho xe chạy qua phải theo đoạn đường cong và đi trên làn đường xe cơ giới phía Tây sát với làn đường xe thô sơ. Lúc này, bà Nguyễn Thị Thu H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78H1-466.21 lưu hành cùng chiều phía trước bên phải trên làn đường xe thô sơ. D điều khiển xe ô tô tải vượt bên trái xe mô tô của bà H nThanh H không đảm bảo khoảng cách an toàn, lấn vào làn đường xe thô sơ nên phần phía trước bên phải ca bin xe ô tô tải biển kiểm soát 76C-056.79 đã tông vào khuỷu tay trái của bà H và tay nắm lái bên trái xe mô tô biển kiểm soát 78H1-466.21, mặt ngoài đai ốc bánh xe phía trước bên phải của xe ô tô tải va chạm cọ sát vào quần của bà H gây tai nạn làm bà H té ngã xuống đường còn xe mô tô thì chạy chao đảo cập kề bên hông xe ô tô tải rồi đảo qua va chạm vào hộ lan bên phải, tiếp đó đảo lại va chạm vào hông xe ô tô tải rồi ngã xuống đường. D nghĩ xe mô tô của bà H tự gây tai nạn té ngã nên vẫn tiếp tục điều khiển xe đi. Thấy vậy, Thanh H hỏi D là hai xe có va chạm hay không thì D trả lời là không có va chạm mà do bà H tự té ngã, đi được khoảng hơn nửa dốc ĐN, Thanh H hỏi lại D là hai xe có va chạm không, D vẫn khẳng định là không, lúc này Thanh H nói không có va chạm thì cũng phải dừng xe để xem như thế nào chứ, nên D dừng xe lại. D xuống xe đi bộ đến vị trí bà H còn Thanh H khóa cửa xe rồi cầm chìa khóa xe ô tô tải đi theo sau. Tại đây, D và Thanh H kêu gọi người đi đường dừng xe để giúp đưa bà H đi cấp cứu và Thanh H tiếp tục hỏi D nhiều lần là xe mình có va chạm với xe mô tô của bà H hay không, D vẫn trả lời là không có va chạm mà do bà H tự té ngã, nghe vậy Thanh H nói không có va chạm thì đi, Thanh H sau đó điều khiển xe ô tô tải rời khỏi hiện trường đi về hướng Nam. Trong số những người dừng lại tại hiện trường có Nguyễn Nhất Thống nghe được nội dung nói chuyện giữa D và Thanh H, nghi vấn nên Thống gọi điện thoại báo cho lực lượng Cảnh sát giao thông. Khi Thanh H điều khiển xe ô tô đến địa phận thôn TS, xã XT 2, thị xã SC thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe quay lại hiện trường vụ tai nạn. Hậu quả, bà Nguyễn Thị Thu H chết khi đang cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định; xe mô tô biển kiểm soát 78H1-466.21 bị hư hỏng.

Tại Kết luận giám định số 23/GĐPY-PC09 ngày 27/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị Thu H là do chấn thương vỡ sọ, giập não. Nồng độ cồn trong máu của nạn nhân là 25.47mg/100ml.

Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 16/4/2021 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thị xã SC kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 78H1-466.21, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: NOZZA, màu xám, đen đã qua sử dụng từ ngày 31/12/2020 tại thời điểm định giá bị hư hỏng hoàn toàn có giá trị nguyên chiếc là 47.000.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 116/C09C-Đ3 ngày 02/3/2021 của Phân Viện kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Các xơ sợi ghi thu tại mặt ngoài đai ốc trục trước bên phải của xe ô tô tải biển kiểm soát 76C-056.79 có 01 loại xơ sợi cùng loại với xơ sợi dệt mảnh vải màu đen ghi thu từ quần, áo của bà Nguyễn Thị Thu H.

Biên bản giám định kỹ thuật số 06 ngày 27/01/2021 của Trung tâm đăng kiểm phương tiện giao thông vận tải 78.01S kết luận: Tại thời điểm kiểm tra an toàn kỹ thuật xe ô tô tải biển kiểm soát 76C-056.79 đạt yêu cầu kỹ thuật.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2022/HS-ST ngày 21/3/2022 của Tòa án nhân dân thị xã SC, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng Điểm c Khoản 2, Khoản 5 Điều 260; Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ bắt thi hành án. Cấm bị cáo hành nghề lái xe 01 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/3/2022, bị cáo Nguyễn Ngọc D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Ngày 03/6/2022, đạ i diệ n hợ p phá p củ a bị hạ i có đơn xin giảm nhẹ hình phạt hoặ c cho bị cáo Nguyễn Ngọc D hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc D vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễ n Ngọ c D – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các Luật sư đều cho rằng, bị cáo có đủ điều kiện được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, nên đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử chấ p nhậ n khá ng cá o củ a bị cáo.

Kiể m sá t viên đố i đá p, không thố ng nhấ t lờ i bà o chữ a của các Luật sư, giữ nguyên quan điểm. Bị cáo Nguyễ n Ngọ c D không tranh luậ n gì, tiế p tụ c xin đượ c pháp luật khoan hồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, các Luật sư Lê Văn Cao , Trầ n Thị Hậ u bào chữa cho bị cáo Nguyễ n Ngọ c D vắng mặt, Thanh H bị cáo Nguyễ n Ngọc D đồng ý đề nghị Tòa xét xử vắng mặt người bào chữa, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo Điểm a, Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự là có cơ sở chấp nhận.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễ n Ngọ c D. Hội đồng xét xử, thấy: Bị cáo Nguyễn Ngọc D điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 76C-056.79 tham gia giao thông, Thanh H thiếu quan sát, vượt xe không đảm bảo khoảng cách an toàn, đi không đúng phần đường quy định đã va chạ m với xe mô tô biển kiểm soát 78H1-466.21 do bà Nguyễn Thị Thu H điều khiển lưu hành phía trước cùng chiều; hậu quả làm bà H chết, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo; bên cạ nh đó , sau khi tai nạ n xả y ra bị cá o có nhờ ngườ i dân đưa bà Hạ nh đi cấ p cứ u, Thanh H sau đó lạ i lên xe ô tô để Đặng Thanh H điề u khiể n rờ i khỏ i hiệ n trườ ng là trốn tránh trách nhiệm, đã vi phạm Khoản 1 Điều 9 và Khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ; nên cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm c Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm thiệt hại tính mạng của người bị hại, nên Kiể m sá t viên đề nghị xử phạ t nghiêm là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường số tiền 420.000.000 đồng để khắc phục toàn bộ thiệt hại, được đại diện hợp pháp của bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự; sau khi xé t xử sơ thẩ m đượ c đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt , xin cho bị cá o hưở ng á n treo ; bị cáo được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, có ông nộ i Nguyễ n Văn Thá i là ngườ i có công vớ i cá ch mạ ng ; bản thân bị cá o là lao độ ng chí nh , có hoàn cảnh gia đình thự c sự khó khăn, đang chăm só c cha Nguyễ n Hương bị bệnh ung thư giai đoạn 3, mẹ Nguyễ n Thị L bị bệ nh thiế u má u nã o mã n tí nh , em ruộ t Nguyễ n Ngọ c Tẩ n bị bệ nh tâm thầ n lâu năm, đang nuôi hai con còn nhỏ, vợ không có nghề nghiệp, thường xuyên đau bệnh; bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, trong đó có tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, nên chấp nhận một phần kháng cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớ m hò a nhậ p cộ ng đồ ng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xét.

Bị cáo kháng cáo được chấp nhận không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điể m c, Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận mộ t phầ n kháng cáo của bị cáo Nguyễ n Ngọ c D – Sử a bản án

sơ thẩm về hì nh phạ t;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự;

Phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc D – 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

2. Bị cáo Nguyễn Ngọc D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ