- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 46, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136; điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣ…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 36/2022/HS-ST Ngày: 23 – 02 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Ngọc Giàu;
Ông Huỳnh Hoàng Thuận.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 21/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu G, sinh năm 1994 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cƣ trú: Thôn K, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Số A, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Vũ Thị C; có vợ Lê Thị H và 01 ngƣời con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại và có đơn đề nghị xét xử mặt.
- Bị hại: Trần Nho T, sinh năm 1989 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Ông Trần Nho H, sinh năm: 1948 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1950; cùng cƣ trú: Xóm B, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh (là cha mẹ của bị hại);
Người đại diện hợp pháp của ông H và bà V: Ông Trần Nho Đ, sinh năm: 1976; nơi cƣ trú: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, là đại diện theo uỷ quyền. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Ngô Thị H, sinh năm: 1975; nơi cƣ trú: Số Z, ngõ S đƣờng T, khối V, phƣờng H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Ông Trần Nho Đ, sinh năm: 1976; nơi cƣ trú: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
Ông Nguyễn Duy H, ông Nguyễn Xuân T, ông Trần Nho L, ông Nguyễn Duy K, bà Lê Thị H, ông Nguyễn Văn D, ông Đinh Văn A. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Hữu G có Giấy phép lái xe hạng A1 số 380174008232 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 17/5/2017.
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 10/02/2021, Nguyễn Hữu G điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter biển số 36C-282.85 chở vợ là bà Lê Thị H và con lƣu thông trên đƣờng Nguyễn Du thuộc khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng theo hƣớng từ ngã tƣ Cửu Long đến ngã tƣ Nguyễn Du, khi đến ngã ba giao nhau giữa đƣờng Nguyễn Du với đƣờng vào khu dân cƣ Minh Tuấn, G điều khiển xe chuyển hƣớng sang phần đƣờng theo chiều ngƣợc lại để rẽ trái vào Khu dân cƣ Minh Tuấn, do không chú ý quan sát nên đã va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Dream biển số 37F2 - 3556 do ông Trần N Tài điều khiển theo hƣớng ngƣợc lại dẫn đến tai nạn giao thông, ông T và G đƣợc đƣa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thành phố Thuận An, sau đó G đƣợc chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dƣơng, ông T sau khi sơ cứu (nhƣng không chụp X- Quang, không chụp CT scan đầu) thì đƣợc ông Nguyễn Duy H và Nguyễn Duy K chở về phòng trọ tại khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An nằm nghỉ, đến khoảng 04 giờ 00 phút ngày 11/02/2021, ông T có triệu chứng thở gấp, mạnh nên ông H và ông K đƣa quay lại Trung tâm Y tế thành phố Thuận An cấp cứu nhƣng ông T đã tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng:
Hiện trƣờng đƣờng Nguyễn Du thuộc khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Mặt đƣờng đƣợc trải nhựa phẳng và thẳng, rộng 9,00 mét; ở giữa có vạch kẻ đƣờng chia thành 02 phần đƣờng xe chạy ngƣợc chiều nhau, mỗi bên rộng 4,50 mét. Đƣờng dẫn vào KDC Minh Tuấn đƣợc trải nhựa phẳng, thẳng rộng 10 mét.
Lấy trụ bê tông số 75/35 ngay gốc đƣờng Nguyễn Du và đƣờng vào Khu dân cƣ Minh Tuấn làm điểm mốc. Lấy mép đƣờng Nguyễn Du hƣớng từ ngã tƣ Nguyễn Du về hƣớng ngã ba Cửu Long làm chuẩn.
Sau tai nạn giao thông hiện trƣờng để lại nhƣ sau
Vết cày của xe mô tô biển số: 37F2-3556 dài là 3,10 mét; đầu vết cày cách lề chuẩn là 0,20 mét; cách trục bánh sau xe mô tô biển số: 36C1-282.85 là 3,30 mét; đuôi vết cày cách lề chuẩn là 1,30 mét trùng với gác chân trƣớc bên phải xe mô tô biển số: 37F2-3556.
Vị trí xe mô tô biển số: 37F2-3556 ngã về bên phải, đầu xe hƣớng về Hội quán bia đen Thành Công, trục bánh trƣớc cách lề chuẩn là 1,70 mét; trục bánh sau cách lề chuẩn là 1,00 mét.
Vị trí xe mô tô biển số: 36C1-282.85 ngã về bên phải, đầu xe quay về hƣớng ngã tƣ Nguyễn Du, trục bánh trƣớc cách lề chuẩn là 2,30 mét và cách trụ bê tông số 75/35 là 9,20 mét; trục bánh sau cách lề chuẩn là 2,40 mét.
Trụ bê tông số 75/35 ngay giữa đƣờng Nguyễn Du và khu dân cƣ Minh Tuấn, cách lề chuẩn 3,40 mét.
Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện:
Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số: 37F2-3556: Hệ thống đèn chiếu sáng vỡ; đèn xi nhan phải vỡ; đầu tay cầm, tay thắng phải mài mòn; đầu gác chân trƣớc phải mài mòn; đầu gác chân sau phải mài mòn; đầu ốp ống xả mài mòn; tay vịn sau bên phải mài mòn; ốp lốc máy bên trái vỡ; đầu cần số bên trái cong về phía sau; đầu gác chân trƣớc trái cong về phía sau.
Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số: 36C1-282.85: Yếm chắn gió hông trái vỡ; cần số cong về phía sau; gác chân trƣớc bên trái cong; cong chẳng ba vè chắn bùn trƣớc vỡ; yếm chắn gió trƣớc hông phải vỡ.
Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 182/GĐPY ngày 15/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng: Các dấu hiệu chính: Bầm tụ máu dƣới da cơ vùng chẩm, thái dƣơng phải; Dập não vùng trán hai bên; Tụ máu vùng trán hai bên, thân não; Nứt xƣơng sàn sọ vùng chẩm lên đỉnh. Nguyên nhân chết của nạn nhân Trần Nho T là do đa chấn thƣơng, chấn thƣơng sọ não, dập não, nứt xƣơng sàn sọ.
Theo kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của ông Trần Nho T xác định là 162,85 mg/dL.
Theo Kết luận giám định số 70/GĐCH-PC09 ngày16/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng: Dấu vết va chạm giữa hai phƣơng tiện là: Dấu vết trƣợt xƣớc cao su ở mặt lăn phải lốp, trƣợt xƣớc kim loại và sơn màu đen ở cạnh phải vành đúc bánh trƣớc, cong hai phuộc trƣớc về sau xe mô tô biển số: 36C1-282.85, có chiều từ mặt lăn vào trục, ngƣợc chiều chuyển động quay tiến của bánh xe phù hợp với dấu vết trƣợt xƣớc, vỡ kim loại ở mặt trƣớc bên trái lốc máy, cong dầu cần số xe mô tô biển số: 37F2-3556, có chiều từ trƣớc về sau.
Dấu vết vỡ, trƣợt bám màng màu xám ở ốp nhựa đầu xe và chóa đèn chiếu sáng xe mô tô biển số: 36C1-282.85, có chiều từ phải qua trái, từ trƣớc về sau phù hợp với dấu vết trƣợt xƣớc ở cạnh trƣớc đầu ngoài ốp cao su tay lái bên trái xe mô tô biển số: 37F2-3556, có chiều từ trƣớc về sau.
Cơ chế hình thành dấu vết là: Phần đầu xe mô tô biển số: 36C1-282.85 va chạm vào mặt bên trái xe mô tô biển số: 37F2-3556 (nhƣ mục 1, phần V), làm xe mô tô biển số: 37F2-3556 đổ ngã sang phải, va chạm với mặt đƣờng tạo ra dấu vết trên hai phƣơng tiện.
Căn cứ vào vị trí, chiều hƣớng các dấu vết ở hiện trƣờng vụ tai nạn giao thông thì vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phƣơng tiện chiếu xuống mặt đƣờng là khu vực bánh xe trƣớc xe mô tô biển số: 36C1-282.85 (kí hiệu số 3 trên sơ đồ hiện trƣờng).
Bản Cáo trạng số 26/CT-VKS-TA ngày 17/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo.
- Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nội dung đơn thể hiện bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng đã truy tố về tội danh, khung hình phạt, không có ý kiến gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hữu G tại Cơ quan Điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhƣ biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ và bản ảnh hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông, vật chứng thu giữ, kết luận giám định pháp y, lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời làm chứng, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 10/02/2021, Nguyễn Hữu G điều khiển xe mô tô biển số 36C-282.85 lƣu thông trên đƣờng Nguyễn Du thuộc khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An theo hƣớng từ ngã tƣ Cửu Long đến ngã tƣ Nguyễn Du, khi đến ngã ba vào Khu dân cƣ Minh Tuấn, Giáp điều khiển xe chuyển hƣớng rẽ trái vào Khu dân cƣ Minh Tuấn thì va chạm với xe mô tô biển số 37F2 - 3556 do ông Trần Nho T điều khiển theo hƣớng ngƣợc lại trên phần đƣờng xe ngƣợc chiều dẫn đến tai nạn làm ông T tử vong. Hành vi của bị cáo điều khiển xe tham gia giao thông vi phạm khoản 2 Điều 15 của Luật giao thông đƣờng bộ năm 2008 gây tai nạn làm chết 01 ngƣời đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ nhƣng không nghiêm chỉnh chấp hành, khi chuyển hƣớng xe không đảm bảo an toàn gây tai nạn. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nƣớc về an toàn, trật tự công cộng, tƣớc đi mạng sống của ngƣời khác, ảnh hƣởng xấu đến trật tự, an toàn giao thông tại địa phƣơng, lỗi của bị cáo là vô ý, do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thƣờng chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại cũng có một phần lỗi, điều khiển xe mà trong máu có nồng độ cồn vƣợt quá quy định (162,85 mg/dL) là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, con còn nhỏ, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hƣớng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho bị cáo nói trên hƣởng án treo, tự cải tạo ở địa phƣơng.
Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhƣng trong hồ sơ thể hiện đã nhận 41.000.000 đồng chi phí mai táng, tổn thất tinh thần, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ:
01 xe mô tô Yamaha Exciter, biển số: 36C-282.85 là tài sản của bị cáo nên Cơ quan cảnh sát Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. 01 xe mô tô (kiểu dáng Dream) nhãn hiệu Honda, biển số: 37F2- 3556 của bị hại điều khiển. Quá trình điều tra xác định bà Ngô Thị H đứng tên Giấy đăng ký xe, tuy nhiên bà H khai nhận không đứng tên chủ sở hữu xe mô tô trên. Cơ quan cảnh sát Điều tra thông báo truy tìm chủ sở hữu nhƣng không có kết quả nên cần giao lại cho Công an thành phố Thuận An để tiếp tục điều tra, xử lý theo thẩm quyền. 01 đĩa DVD bên trong chứa dữ liệu camera ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông đã lƣu hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 46, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136; điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án 23/02/2021.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Giao 01 xe mô tô 02 bánh (kiểu dáng Dream), biển số: 37F2-3556, số khung C100M-0193383, số máy C100ME-0193383 cho Công an thành phố Thuận An để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND, Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Công an, Chi cục THADS thành phốThuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo, ngƣời tham gia tố tụng khác; - UBND xã (phƣờng) nơi bị cáo cƣ trú; - Lƣu HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Thi |