vanban.org

Bản án 36/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 19/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Phạt bị cáo Võ Đức T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 17/8/2021). Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đức T tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HS-ST
Ngày: 19-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Thoa;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Oanh;

Ông Phan Tùng Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuỳ Trân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Hiển – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Võ Đức T, sinh ngày 26/4/1997 tại Phú Yên; nơi cư trú: khu phố P, phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thái H, sinh năm 1975 và bà Võ Thị Thanh H, sinh năm 1969; vợ: Lê U, sinh năm 2001 và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2021; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1997; cư trú tại: khu phố N, phường M, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Võ Đức H, sinh năm 1994; cư trú tại: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

+ Anh La Lan T, sinh năm 2000; cư trú tại: xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

+ Ông Liễu Vạn Q, sinh năm 1971; cư trú tại: khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 17/8/2021, tại đoạn đường trước số nhà M đường T thuộc Phường K, thành phố T, Tổ tuần tra xử lý đối tượng vi phạm phòng, chống dịch Covid-19 và phòng chống tội phạm Công an tỉnh Phú Yên phát hiện Võ Đức T đang điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn C có dấu hiệu vi phạm Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ nên dừng xe để kiểm tra rồi đưa về Công an phường N làm việc. Cơ quan Công an phát hiện dưới chân T có 01 bao thuốc lá hiệu 555 bên trong có 04 bì nilon chứa ma tuý nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Qua điều tra, T khai nhận số ma tuý trên T mua của một người tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 18.500.000 đồng về cất giấu với mục đích để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 244/GĐ-PC09 ngày 24/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận: 04 bì nilon bên trong chứa các tinh thể màu trắng là ma tuý loại Ketamine, có tổng trọng lượng 6,451 gam; 01 bì nilon bên trong có 14 viên nén màu xanh là ma tuý loại MDMA, có tổng trọng lượng là 6,642 gam.

Về vật chứng hiện đang tạm giữ: 6,497 gam ma tuý loại MDMA; 6,173 gam ma tuý loại Ketamine (còn lại sau giám định); 01 điện thoại di động cảm ứng màu hồng, mặt sau có chữ Iphone; 01 điện thoại di động cảm ứng màu xanh, mặt sau có chữ Vsmart; 01 xe mô tô hiệu Wave alpha màu trắng biển số 78C1-640.81, số khung RLHJA3923LY078043, số máy JA39E-2082371; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu 555; 01 chứng minh nhân dân số 221409494 tên Võ Đức T; 01 cái ví màu đen và số tiền 1.000.000 đồng.

Cáo trạng số 04/CT-VKSTP ngày 28/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hoà truy tố bị cáo Võ Đức Tiếng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù. Bị cáo không có nghề nghiệp nên không đề nghị phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu huỷ 6,497 gam ma tuý loại MDMA, 6,173 gam ma tuý loại Ketamine (còn lại sau giám định), 01 vỏ bao thuốc lá hiệu 555; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng màu hồng, hiệu Iphone; trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân số 221409494 tên Võ Đức T, 01 cái ví màu đen, số tiền 1.000.000 đồng và 01 xe mô tô hiệu Wave alpha màu trắng biển số 78C1-640.81, số khung RLHJA3923LY078043, số máy JA39E-2082371; trả lại cho anh Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động cảm ứng màu xanh, hiệu Vsmart.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin được nhận lại 01 xe mô tô, 01 chứng minh nhân dân, số tiền 1.000.000 đồng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn C có ý kiến xin được nhận lại 01 điện thoại di động hiệu Vsmart hiện đang bị tạm giữ trong vụ án.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã thấy rõ được hành vi vi phạm mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuy Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 17/8/2021, bị cáo Võ Đức T đã có hành vi cất giấu 13,093 gam chất ma tuý (trong đó 6,451 gam loại Ketamine và 6,642 gam loại MDMA) dưới chân bị Tổ tuần tra - Công an tỉnh Phú Yên phát hiện được. Do đó, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực để nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với người có tên “T” mà bị cáo T khai đã bán ma tuý cho bị cáo nhưng không xác định rõ lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý. Đối với anh Nguyễn Văn C là người đi cùng xe với bị cáo T nhưng không biết việc T cất giấu ma tuý nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng:

6,497 gam ma tuý loại MDMA; 6,173 gam ma tuý loại Ketamine (còn lại sau giám định) là vật cấm tàng trữ; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu 555 không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;

01 điện thoại di động cảm ứng màu hồng, mặt sau có chữ Iphone bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;

01 xe mô tô hiệu Wave alpha màu trắng biển số 78C1-640.81, số khung RLHJA3923LY078043, số máy JA39E-2082371; 01 chứng minh nhân dân số 221409494 tên Võ Đức T; 01 cái ví màu đen và số tiền 1.000.000 đồng là tài sản của bị cáo T không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo;

01 điện thoại di động cảm ứng màu xanh, mặt sau có chữ Vsmart là tài sản thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn C, không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo T nên trả lại cho anh C.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Phạt bị cáo Võ Đức T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 17/8/2021).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu huỷ 6,497 gam ma tuý loại MDMA; 6,173 gam ma tuý loại Ketamine; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu 555;

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng màu hồng, mặt sau có chữ Iphone đã qua sử dụng;

Trả lại cho bị cáo Võ Đức T 01 xe mô tô hiệu Wave alpha màu trắng biển số 78C1-640.81, số khung RLHJA3923LY078043, số máy JA39E-2082371; 01 chứng minh nhân dân số 221409494 tên Võ Đức T; 01 cái ví màu đen và số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng;

Trả lại cho anh Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động cảm ứng màu xanh, mặt sau có chữ Vsmart đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/12/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hoà và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ