vanban.org

Bản án 36/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 16/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1.Tuyên bố bị cáo Trần Thị C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.Xử phạt bị cáo Trần Thị C 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/01/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị C "tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? 1.Tuyên bố bị cáo Trần Thị C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HS-ST
Ngày 16-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Minh Yên

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Nguyễn Thị Hằng

2.Bà Mai Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Thị C, Giới tính: Nữ, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12/10/1975, tại Ứng Hòa, Hà Nội.

Nơi cư trú: Tổ 16, phường C, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/10; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Ngọc V (SN 1944, đã chết) và bà Nghiêm Thị D (SN: 1944). Có chồng là Ngô Đình Q và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 20/01/2022, tạm giam ngày 25/01/2022, hiện tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 15 phút ngày 20/01/2022, tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 18 phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai phát hiện Trần Thị C đang dừng đỗ xe máy ở ven đường có biểu hiện nghi vấn tội phạm về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, C khai nhận đang cất giấu ma túy trên người và lấy từ trong túi áo khoác bên trái đang mặc giao nộp 01 gói được gói bằng bìa cát tông, bên trong là lớp nilon, kế tiếp là lớp giấy bạc, bên trong là lớp giấy chứa chất bột khô màu trắng. C khai nhận là Heroine, mua về để sử dụng. Tổng khối lượng của số chất bột khô, màu trắng thu giữ của Trần Thị C là 0,24 gam.

*Tại bản kết luận giám định số 51/GĐMT ngày 22/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,24 gam chất bột khô, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).

Quá trình điều tra Trần Thị C đã khai nhận mua Heroine của Trần Quốc Hưng, tại tổ 14, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai với số tiền 400.000 đồng về để sử dụng cho bản thân.

*Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 14 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã truy tố Trần Thị C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Thị C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Tuyên xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị C khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 14h 30 phút, ngày 20/01/2022 khi đang ở nhà thì bị cáo nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng. Bị cáo đã gọi điện thoại cho anh Hưng và mua 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng. Sau khi nhận ma túy, Trần Thị C đã cất giấu trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe máy đi đến khi vực tổ 18 phường Bắc Cường thì dừng xe đỗ ở ven đường và bị công an kiểm tra bắt giữ.

Lời nói sau cùng của bị cáo, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó về trình tự, thủ tục điều tra, truy tố là hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Trần Thị C là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức, hiểu biết xã hội và pháp luật. Mặc dù biết việc tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng ngày 20/01/2022 khi đang tàng trữ ma túy để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, nội dung bản Cáo trạng, lời khai người làm chứng, Kết luận giám định cũng như các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Với việc tàng trữ 0,24 gam ma túy Heroine để sử dụng, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Lào Cai. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục pháp luật tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Không

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015;

Về vật chứng:

Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ:

-0,24gam chất ma túy Heroine, sau trích mẫu giám định còn lại 0,18gam được niêm phong bằng bì thư in sẵn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai trên một mặt bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét chỗ ở Trần Thị C ngày 20/01/2022 tại tổ 8, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”. Xét thấy đây là vật chứng của vụ án, thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

-Đối với số tiền 50.000 đồng và 01 điện thoại Nokia, màu đen có số seri 1: 35618543450618, lắp sim số thuê bao 0377892275, thu giữ của Trần Thị C. Xét thấy đây là tài sản của cá nhân bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành phần án phí, nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về các vấn đề khác:

Liên quan đến vụ án có Trần Quốc Hưng là người đã bán ma túy cho bị cáo C, Cơ quan điều tra đã xử lý trong một vụ án khác nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Xét quan điểm của kiểm sát viên: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá về nhân thân của bị cáo, đề nghị quyết định hình phạt với mức án đưa ra là phù hợp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa, bị cáo đã được giải thích và không có ý kiến gì đối với việc công khai bản án trên cổng thông tin điện tử của Tòa án. Bản án có hiệu lực pháp luật sẽ được công khai trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao theo quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

1.1.Tuyên bố bị cáo Trần Thị C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1.2.Xử phạt bị cáo Trần Thị C 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/01/2022.

2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

-Tịch thu tiêu hủy: 0,18 gam ma túy Heroin được niêm phong bằng bì thư in sẵn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai trên một mặt bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét chỗ ở Trần Thị C ngày 20/01/2022 tại tổ 8, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.

-Tạm giữ: 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, hiện tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.9049863 của Công an thành phố Lào Cai (theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 14/4/2022) và 01 điện thoại Nokia, màu đen có số seri 1: 35618543450618, lắp sim số thuê bao 0377892275, tạm giữ của Trần Thị C để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2022)

3.Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Trần Thị C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ