vanban.org

Bản án 36/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế Tuyên án 13/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trương Văn M1 03 năm 06 tháng tù.

Hình phạt chung bị cáo Trương Văn M1 phải chịu là: 04 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 09/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn M1 - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trương Văn M1 03 năm 06 tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 145 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HS-ST
Ngày: 13/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Vũ Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Nữ Hảo Tâm, Phó hiệu trưởng Trường PTTH Quốc Học Huế.

2. Ông Dương Tuấn Anh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Nhân Tài, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Bảo Tá - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số 11 Tôn Đức Thắng, thành phố Huế, xét xử kín sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:

Trương Văn M1 (tên gọi khác: Không có); sinh ngày: 10/02/1995 tại Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ dân phố Lương V, thị trấn Phú Đ, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Khắc M; con bà: Trương Thị V; gia đình có 4 chị em, bị cáo là con thứ 3; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Quá trình hoạt động bản thân: Nhỏ ở với mẹ, đi học văn hóa lớp 2/12 làm nghề thợ xây cho đến ngày gây án.

- Năm 2011 bị Ủy ban nhân dân huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, thời gian 12 tháng. Chấp hành tại Trường Giáo dưỡng số 3, Đà Nẵng.

- Năm 2014 bị Công an thị trấn Phú Đ, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

- Năm 2015 bị Công an huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Phú L, tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 01 năm tù giam về tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 09/9/2021 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế khởi tố và tạm giam về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 05/11/2021, kết thúc điều tra, chuyển Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương T đề nghị truy tố Trương Văn M1 về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hiện bị can M1 đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thừa Thiên Huế. Bản án số 82/2021/HS-ST ngày 23/12/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Hương T tuyên phạt 01 năm tù giam về tội: “Trộm cắp tài sản”. Bắt tạm giam ngày 09/9/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Cháu Trần Thị Mỹ T; sinh ngày 17/01/2008; trú tại: Thôn Hà U1, xã Vinh A, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần L; sinh năm 1986; trú tại: Thôn Hà U1 , xã Vinh A, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Bê, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Văn M2; sinh năm 2001; trú tại; Tổ dân phố Lương V, thị trấn Phú Đ, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Trương Thị V; sinh năm 1969; trú tại; Tổ dân phố Lương V, thị trấn Phú Đ, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

2. Bà Trương Thị T; sinh năm 1978; trú tại: Thôn Mộc T, xã Phú G, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

3. Bà Phạm Thị Mỹ H; sinh năm 1977; trú tại: A12 Dục T, phường Vỹ D, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

4. Anh Lê Quốc D; sinh năm 1989; trú tại: Tổ 10, phường Thủy C, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/8/2021, Trương Văn M1 làm quen với cháu Trần Thị Mỹ T (sinh ngày 17/01/2008, trú tại: thôn Hà U1, xã Vinh A, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế) thông qua mạng xã hội facebook. Trong các ngày 17/8 và 19/8/2021, Trường Văn M1 quan hệ tình dục với cháu T 02 lần, cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 17/8/2021, Trương Văn M1 sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo Reno2 nhắn tin hẹn cháu T đi uống cafe nói chuyện, cháu T đồng ý. Khoảng 15 giờ cùng ngày, M1 điều khiển xe mô tô biển số 75H1- 69.334 (mượn của anh Trương Văn M2) chở cháu T đi chơi. Đến 21 giờ cùng ngày thì cả hai vào nhà nghỉ Kiều D, xã Phú G, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế thuê phòng 107 để nghỉ lại. Tại đây, Trương Văn M1 quan hệ tình dục (giao cấu) với cháu T 01 lần xong ngủ lại đến 05 giờ sáng ngày 18/8/2021 chở cháu T về nhà.

Lần 2: Trưa ngày 19/8/2021, Trương Văn M1 nhắn tin qua ứng dụng messenger hẹn gặp cháu T đi uống nước và mua đồ dùng. M1 điều khiển xe mô tô biển số 75H1-69.334 đến đón cháu T tại khu vực Đài tưởng niệm liệt sỹ xã Vinh A. Cả hai đi mua dụng cụ làm tóc cho cháu T, đến 15 giờ ngày 19/8/2021, M1 và cháu T vào thuê phòng 204, nhà nghỉ Mỹ L, phường Vỹ D, thành phố H. M1 quan hệ tình dục với cháu T 01 lần, xuất tinh vào trong âm hộ của cháu T. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, M1 trả phòng và chở cháu T về nhà. Khi đến ngã tư xã Vinh A, huyện Phú V thì bị ông Trần L (bố ruột của cháu T) chặn lại. Trương Văn M1 bỏ xe mô tô lại chạy trốn, ông L trình báo Công an xã Vinh A, giao nộp xe mô tô biển số 75H1 69.334.

* Phần vật chứng:

- Tang vật thu giữ ngày 20/8/2021 gồm: 01 điện thoại di động Oppo Reno2 số imeil 869778040272412; imei2 869778040272404 và 01 xe mô tô biển số 75H1-69.334 tên Trương Văn M1.

* Phần giám định:

- Ngày 20/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú V ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 51/QĐ về giám định pháp y tình dục đối với tổn thương trên cơ thể và bộ phận sinh dục của cháu Trần Thị Mỹ T.

- Ngày 30/8/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế có kết luận giám định số 349-21/TDTE xác định em Trần Thị Mỹ T như sau:

+ Bộ phận sinh dục ngoài: Không thấy hình ảnh tổn thương bên ngoài.

+ Tình trạng màng trinh: Màng trinh hình khế, đường kính #2cm, âm hộ, màng trinh không tìm thấy tổn thương mới.

+ Kết luận tế bào: Có hình ảnh tinh trùng trên tiêu bản mã số A634.

- Ngày 26/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú V ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 56/QĐTC, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TT Huế giám định dấu vết sinh vật (tinh dịch và tinh trùng) đối với các mẫu vật thu giữ của cháu Trần Thị Mỹ T và đối tượng Trương Văn M1.

- Ngày 08/9/2021, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TT Huế có kết luận giám định số 498/GĐ như sau:

+ Chất dịch súc rửa âm đạo ghi thu của cháu Trần Thị Mỹ T được đựng trong 02 ống nghiệm (ký hiệu M1) gửi giám định đều phát hiện dấu vết tinh dịch và tìm thấy xác tinh trùng người với số lượng 01-02 con/vi trường/một giọt căn/tiêu bản.

+ Trên que tăm bông có phết dịch âm đạo ghi thu của cháu Trần Thị Mỹ T (ký hiệu M2) gửi giám định có phát hiện dấu vết tinh dịch và tìm thấy xác tinh trùng người có số lượng 01-02 con/vi trường một giọt cặn/tiêu bản.

- Ngày 07/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú V ban hành Quyết định trưng cầu số 59/QĐ, trưng cầu Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định ADN đối với mẫu dịch âm đạo thủ của cháu Trần Thị Mỹ T.

- Ngày 20/9/2021, Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng có kết luận giám định số 1049/C09C-Đ3 như sau:

+ Trong mẫu ghi thu dịch âm đạo của Trần Thị Mỹ T (ký hiệu M) có xác tinh trùng của Trương Văn M1.

- Ngày 06/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú V ban hành Quyết định trưng cầu số 58/QĐ, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế giám định kỹ thuật số - điện tử , khôi phục và trích xuất nội dung tin nhắn trên ứng dụng Messenger của tài khoản có tên “M lãng tử” đến tài khoản có tên “T Trần”.

- Ngày 01/10/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TT Huế có kết luận giám định số 52/GĐ như sau:

Không tìm thấy nội dung tin nhắn trên ứng dụng Messenger của tài khoản có tên “M lãng tử” đến tài khoản có tên “T Trần” từ ngày 12 tháng 8 năm 2021 đến hết ngày 19 tháng 8 năm 2021 theo yêu cầu.

* Phần trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của cháu T không yêu cầu M1 bồi thường.

* Phần xử lý vật chứng:

- Ngày 06/10/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện Phú V trả lại xe mô tô biển số 75H1-69.334 cho chủ sở hữu là anh Trương Văn M2. Chuyển vật chứng 01 điện thoại di động Oppo Reno2 để truy tố, xét xử.

Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSTTH-P2 ngày 15/2/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Trương Văn M1 về tội: “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người đủ 13 đến dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên quan điểm của cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trương Văn M1 mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người đủ 13 đến dưới 16 tuổi”. Tổng hợp hình phạt đối với bản án số 82/2021/HS-ST ngày 23/12/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Hương T tuyên phạt 01 năm tù giam về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định pháp luật.

* Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, Luật sư bào chữa cho bị cáo đồng ý với tội danh của đại diện Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo. Tuy nhiên, Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên: Trong quá trình thực hiện điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, luật sư, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 17 và 19 tháng 8 năm 2021 tại nhà nghỉ Kiều D, xã Phú G, huyện Phú V và nhà nghỉ Mỹ L, phường Vỹ D, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trương Văn M1 quan hệ tình dục (giao cấu) 02 lần với với cháu Trần Thị Mỹ T. Tại thời điểm bị xâm hại, cháu T 13 tuổi 7 tháng.

Với hành vi nêu trên, bị cáo Trương Văn M1 đã phạm vào tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người đủ 13 đến dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a khoản 2, Điều 145 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 10/CT-VKSTTH-P2 ngày 15/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo với tội danh như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Trương Văn M1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 16 tuổi nói chung và người dưới 13 tuổi nói riêng thì đều vi phạm Luật Trẻ em và pháp luật hình sự. Tuy nhiên, chỉ vì để thỏa mãn ham muốn dục vọng thấp hèn của bản thân, bị cáo đã lợi dụng sự non nớt về nhận thức của trẻ vị thành niên để dụ dỗ cháu Trần Thị Mỹ T quan hệ tình dục với mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ, trái với luân thường đạo lý và gây ảnh hưởng xấu đến tâm sinh lý, sự phát triển bình thường của cháu T cũng như tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần phải có một hình phạt thích đáng và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự và nhiều lần bị Cơ quan chức năng, cơ quan tiến hành tố tụng xử phạt hành chính và hình sự nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, tự cải tạo để thành người tốt, có ích cho xã hội mà bị cáo tiếp tục thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đại diện hợp pháp cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Hương T xử 01 năm tù theo Bản án số 82/2021/HS-ST ngày 23/12/2021 về tội: “Trộm cắp tài sản”. Do hành vi này phạm tội sau nên cần áp dụng quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt theo quy định.

Về vấn đề dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Ngày 06/10/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện Phú V trả lại xe mô tô biển số 75H1-69.334 cho chủ sở hữu là anh Trương Văn M2 là đúng quy định pháp luật

Cần tịch thu sung tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Oppo Reno2 số imeil 869778040272412; imei2 869778040272404.

Về án phí: Bị cáo Trương Văn M1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trương Văn M1 phạm tội: “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người đủ 13 đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn M1 03 năm 06 tháng tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp 01 năm tù của bản án số 82/2021/HS-ST ngày 23/12/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Hương T.

Hình phạt chung bị cáo Trương Văn M1 phải chịu là: 04 năm 06 tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 09/9/2021.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Oppo Reno2 số imeil 869778040272412; imei2 869778040272404 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2022 giữa CQCSĐTCA Thừa Thiên Huế và Cục THADS tỉnh TT Huế.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: Bị cáo Trương Văn M1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ