- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2022/HS-ST Ngày 28- 04 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông: Quách Hà Vính
2. Bà: Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Vũ Khánh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 04 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2022/HSST ngày 13/04/2022.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐXX-ST, ngày 15/04/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/8/1992, tại xã TC, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn TY, xã TC, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; có bố: Nguyễn Văn TY - Sinh năm 1926; có mẹ: Hoàng Thị M - Sinh năm 1954; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân T: Ngày 24/01/2019 bị Tòa án nhân dân huyện CT xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2019/HSST ngày 24/01/2019. Đến nay đã được xóa án tích; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 28/2/2022 đến ngày 11/3/2022 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng: Anh Nguyễn Văn T1 – Sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn TY, xã TC, huyện T, Thanh Hóa.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Xuất phát từ nhu cầu thường xuyên sử dụng chất ma túy của bản T nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 28/02/2022, Nguyễn Văn T sinh ngày 16/8/1992 ở thôn TY, xã TC, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã một mình đi bộ từ nhà ra đường xin đi nhờ xe của người lạ đến thị trấn PS, huyện CT để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bãi đất trống gần cầu PS, huyện CT, T đã gặp và hỏi mua của một người đàn ông lạ mặt không biết tên, tuổi, địa chỉ 06 đoạn ống nhựa đựng ma túy với giá 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). Sau đó, T tiếp tục xin đi nhờ xe để về nhà ở thôn TY, xã TC. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T nhờ anh Nguyễn Văn T1 ở cùng thôn, điều khiển xe mô tô chở T đến nhà anh rể để uống rượu. Lúc đi T cầm theo trong lòng bàn tay phải của mình 06 đoạn ống nhựa đựng ma túy vừa mua được để lúc cần lấy ra sử dụng, việc T cầm theo ma túy trên người T1 không biết. Khi T1 và T đi đến khu vực gần chợ TY, xã TC thì bị tổ công tác của Công an xã TC đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay phải của T 06 đoạn ống nhựa đựng ma túy, tại chỗ T đã thừa nhận mọi hành vi của mình. Tổ công tác đã đưa T về Ủy ban xã TC lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. (Các bút lục số 01 đến 04; từ số 82 đến số 94).
Ngày 01/3/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ban hành Quyết định số 26/QĐ-CSĐT trưng cầu giám định đối với mẫu vật đã niêm phong. Tại bản Kết luận giám định số 952/KL-PC09-MT ngày 04/3/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Chất bột màu trắng chứa trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,237g (không phẩy hai ba bảy gam), loại Heroine. (Các bút lục số 26, 29).
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã khai nhận mua số ma túy trên của một người đàn ông lạ mặt không rõ tên, tuổi, địa ở gần khu vực gần cầu PS, huyện CT chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản T. Nhưng không cung cấp được các thông tin về nhân T, lại lịch cụ thể của người đàn ông đã bán ma túy này cho T. Vấn đề này Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tách hồ sơ để tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì ma túy đã niêm phong (mẫu vật hoàn lại sau giám định). Hiện đang bảo quản, chờ xử lý tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện T.
Một xe mô tô màu đỏ, trắng nhãn hiệu Exciter mang biển kiểm soát 36E1-44.222. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe máy thu giữ trên là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn Mậu không liên quan đến hành vi phạm tội của bị can, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, giao trả cho Mậu theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSTT ngày 13/04/2022 của Viện kiểm sát nhân dân (Sau đây viết tắt VKSND) huyện T đã truy tố Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý'' theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).
*Phần tranh tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa Đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị mức hình phạt từ 24 đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS) tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 1 phong bì do phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa phất hành được gián kín, niêm phong bởi các chữ ký , ghi rõ họ tên của Phạm Thanh Hải, Nguyễn Trần Đăng, Trần Thị Thúy Hằng và 07 hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự công án tỉnh Thanh Hóa (bên trong chứa 0,211gam chất bột màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định).
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/02/2022, tổ công tác Công an xã TC thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực địa bàn xã TC, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, tại đoạn đường gần chợ TY, xã TC, huyện T thì phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ 06 đoạn ống nhựa bên trong đựng ma túy, sau giám định có trọng lượng 0,237g (không phẩy hai ba bảy gam), loại Heroinne, T khai tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cáo trạng của VKSND huyện T truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội. Bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất bị Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán do những tác hại xấu đến đời sống kinh tế, xã hội cũng như sức khỏe của con người, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn phạm tội. Bị cáo là người có nhân T xấu ngoài lần phạm tội này bị cáo đã từng bị tòa án xử phạt về tội trộm cắp tài sản. Vì vây để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm để răn đe và giáo dục chung đối với những người có ý định phạm tội.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Tuy nhiên tội phạm ma túy là tội nghiêm trọng, tệ nạn về ma túy luôn là vấn đề nhức nhối của xã hội nên HĐXX xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ thời gian cải tạo bị cáo thành công dân có ích và nhằm giáo dục chung.
. Đối với người bán ma túy, bị cáo khai không biết danh tính, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản cá nhân nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là có căn cứ.
. Xét về vật chứng: 0,211gam (không phẩy hai trăm mười một gam) là heroine còn lại sau giám định và bao gói niêm phong đựng trong phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c, Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 24 (hai bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án nhưng được trừ ngày tạm giữ tạm giam từ ngày 28/02/2022 đến ngày 11/03/2022.
Áp dụng: Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
-Tịch thu tiêu hủy 0,211gam (không phẩy hai trăm mười một gam) ma túy là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong 1 phong bì do phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa phất hành được gián kín, niêm phong bởi các chữ ký , ghi rõ họ tên của Phạm Thanh Hải, Nguyễn Trần Đăng, Trần Thị Thúy Hằng và 07 hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự công án tỉnh Thanh Hóa.
Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 15/04/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
- Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - Chi cục THADS T; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa Lê Văn Quân |