vanban.org

Bản án 36/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 20/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: bị cáo Cù Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Cù Văn V 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Cù Văn V cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cù Văn Vĩnh - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: bị cáo Cù Văn V phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ TRUNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HS-ST
Ngày 20-04-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Ngọc Khuê và bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Ngọc Lan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Dương Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 03 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 04 năm 2022, đối với bị cáo:

Cù Văn V, sinh năm 1991 tại xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn B, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cù Văn Viễn và bà Phạm Thị M; có vợ là Đỗ Thị P và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giam: không; tạm giữ: bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/7/2021 đến ngày 16/7/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Phạm Trung T, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn T3, xã H1, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

2. Trịnh Văn M, sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn B, xã H1, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 07/07/2021, Cù Văn V nhận được tin nhắn SMS của Phạm Trung T có nội dung nói Cù Văn V gửi kèo bóng đá trận bán kết EURO 2020 giữa hai đội tuyển Anh và Đan Mạch diễn ra vào lúc 02 giờ sáng ngày 08/7/2021 để V và T cá cược với nhau. V dùng điện thoại di động gắn thẻ sim 0987.072.736 nhắn tin vào số máy 0877.608.895 của Phạm Trung T kèo bóng với nội dung “anh chấp 0,75 ăn 90 ăn 80 tài 2 ăn 70 ăn 93 - hl anh chấp 0,5 ăn 90 ăn 80 tài 0,75 ăn 80 ăn 86”. Với kèo “anh chấp 0,75 ăn 90 ăn 80” có nghĩa đội tuyển Anh chấp đội tuyển Đan Mạch 0,75 bàn thắng, nếu người chơi chọn đội tuyển Anh thì đội tuyển Anh phải thắng với tỷ số cách biệt từ 2 bàn trở lên thì người chơi sẽ thắng với số tiền bằng 90% số tiền đặt cược, đội tuyển Anh thắng cách biệt 01 bàn thì người chơi chỉ thắng được 90% của một nửa số tiền đã đặt cược, đội tuyển Anh hòa hoặc thua thì người chơi thua toàn bộ số tiền cược. Nếu người chơi chọn đội tuyển Đan Mạch mà đội tuyển Đan Mạch hòa hoặc thắng đội tuyển Anh thì người chơi thắng với số tiền bằng 80% số tiền đặt cược, đội tuyển Đan Mạch thua đội tuyển Anh cách biệt 1 bàn thì người chơi thua với số tiền bằng 50% số tiền đặt cược, đội tuyển Đan Mạch thua với cách biệt từ 2 bàn trở lên thì người chơi thua toàn bộ số tiền đặt cược. Với kèo “tài” (cửa trên), “xỉu” (cửa dưới) là tính tổng số bàn thắng trong cả trận, “tài 2 ăn 70 ăn 93” có nghĩa nếu người chơi đặt cửa “tài” mà tổng số bàn thắng của cả trận đấu là 2 bàn thì người chơi hòa tiền, trên 2 bàn thắng thì người đặt cửa “tài” sẽ thắng với số tiền bằng 70% số tiền đặt cược, nếu đặt cửa “xỉu” mà tổng số bàn thắng dưới 2 bàn thì người chơi sẽ thắng với số tiền bằng 93% số tiền đã đặt cược. Căn cứ để xét thắng thua là kết quả của cả trận đấu trong thời gian thi đấu hai hiệp chính (không tính hiệp phụ và loạt đá luân lưu 11m). Với kèo “h 1 anh chấp 0,5 ăn 90 ăn 80 tài 0,75 ăn 80 ăn 86” cũng tính tương tự nhưng căn cứ để xét thắng thua là kết quả của hiệp thi đấu thứ nhất. T nhắn tin lại cho V với nội dung: “Băt ah 2500 hết trận ok ong nha” có nghĩa là T cược với V theo kèo “anh cháp 0,75 ăn 90 ăn 80” cả trận (thời gian thi đấu hai hiệp chính), T chọn đội tuyển Anh với số tiền cược là 2.500.000đ, V đồng ý cá cược với T và nhắn tin lại: “ok”. Tối cùng ngày, Cù Văn V tiếp tục nhận được tin nhắn qua tải khoản Zalo “V Phúc” của V, đăng ký theo số điện thoại 0987.445.736 từ tài khoản Zalo “M hl” đăng ký theo số điện thoại 0972.108.331 của Trịnh Văn M, sinh năm 1994 ở thôn B, xã H1, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa cũng với nội dung hỏi kèo bóng đá trận Anh gặp Đan Mạch để M và V cá cược với nhau. V nhắn tin cho M kèo bóng có nội dung: “anh cháp 0,75 ăn 93 ăn 80 tài 2,25 ăn 70 ăn 96 - hl anh chấp 0,25 ăn 90 ăn 80 tài 0,75 ăn 80 ăn 86”. Cách tính thắng thua giống kèo với Phạm Trung T, chỉ khác nhau về tỷ lệ phần trăm tiền thưởng. M nhắn lại cho V với nội dung: “Đánh tài trận 2500 a nhé”, có nghĩa M đặt cửa tài cả trận (trong thời gian thi đấu hai hiệp chính) với số tiền cược là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng). V đồng ý nhận cược của M và nhắn lại “ok e”. Căn cứ kết quả trận đấu bán kết của vòng chung kết EURO 2020 giữa đội tuyển Anh và đội tuyển Đan Mạch diễn ra vào lúc 02 giờ sáng ngày 08/7/2021, sau khi kết thúc hai hiệp thi đấu chính thức, hai đội tuyển Anh và Đan Mạch hòa nhau với tỷ số “1 - 1” nên T và M đều thua hết số tiền đã đặt cược. Sau khi nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, ngày 08/07/2021, V đã đầu thú tại Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Vật chứng thu giữ được gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo của Cù Văn V, bên trong chứa sim số 0987.072.736 và 0352.123.991; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 106 màu đen của Phạm Trung T, bên trong chứa sim số 0877.608.895; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 của Trịnh Văn M, bên trong chứa sim số 0972.108.331.

Cáo trạng số 76/CT-VKSHT ngày 05 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Cù Văn V về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Cù Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 65; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Cù Văn V từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 106 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7; truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 2.500.000 đồng của Phạm Trung T và 2.500.000 đồng của Trịnh Văn M là tiền mà các đối tượng dùng để đánh bạc; tịch thu tiêu hủy các sim số 0987.072.736, 0352.123.991, 0877.608.895 và 0972.108.331.

- Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ được, đủ cơ sở khẳng định: chiều và tối ngày 07/7/2021, Cù Văn V đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức cá cược bóng đá, được thua bằng tiền thông qua tin nhắn điện thoại và tài khoản Zalo với Phạm Trung T và Trịnh Văn M, mỗi người 2.500.000 đồng trong cùng một trận bóng đá. Sau khi có kết quả trận đấu, V đã thắng toàn bộ số tiền của T và M nhưng chưa nhận được tiền. V cùng lúc nhận cá cược với hai người chơi với tổng số tiền là 5.000.000 đồng nên phải chịu trách nhiệm chung về tổng số tiền đánh bạc này. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Cù Văn V về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy, phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội thành khẩn khẩn khai báo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo đầu thú được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Cần căn cứ những tình tiết này để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu phạm tội, không có tình tiết tăng nặng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, chỉ cần buộc bị cáo cải tạo ở địa phương và ấn định thời gian thử thách cũng đủ khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Các đối tượng Phạm Trung T và Trịnh Văn M, mỗi người đã sử dụng số tiền 2.500.000 đồng vào việc đánh bạc, sau khi có kết quả trận đấu T và M đều thua. Hành vi đánh bạc của T và M là độc lập, không có sự bàn bạc, số tiền đánh bạc chưa đủ 5.000.000 đồng, mặt khác bản thân T và M chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, do đó cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với T và M là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng:

Bị cáo sử dụng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo làm phương tiện liệc lạc để đánh bạc nên phải tịch thu sung ngân sách nhà nước;

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 106 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 là của T và M sử dụng làm phương tiện giao dịch bất hợp pháp nên cũng phải tịch thu nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.

Đối với các sim số 0987.072.736, 0352.123.991, 0877.608.895 và 0972.108.331 do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với hành vi đánh bạc bị xử phạt hành chính của các đối tượng Phạm Trung T và Trịnh Văn M, trong các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Công an huyện Hà Trung không tịch thu số tiền 2.500.000 đồng của T và 2.500.000 đồng của M. Do số tiền này là phương tiện phạm tội, vì vậy cần phải truy thu để nộp ngân sách nhà nước.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Cù Văn V.

1. Về tội danh: bị cáo Cù Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Cù Văn V 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Cù Văn V cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) sim số 0987.072.736, 0352.123.991, 0877.608.895 và 0972.108.331 (đặc điểm của các sim số theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, chứng cứ ngày 19/04/2022 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hà Trung và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung).

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 106 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 (đặc điểm của các điện thoại theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, chứng cứ ngày 19/04/2022 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hà Trung và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung).

Truy thu nộp ngân sách nhà nước: số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) của Phạm Trung T và 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) của Trịnh Văn M.

4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Cù Văn V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ