vanban.org

Bản án 36/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngần Thị M về việc “Ly hôn”. Cho bà Ngần Thị M được ly hôn ông Mai Văn C.

Về con chung: Giao cháu Mai Thị Thiên N, sinh ngày 24/7/2007 và cháu Mai Thị Quý T, sinh ngày 27/8/2009 cho bà Ngần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngần Thị M về việc “Ly hôn”. Cho bà Ngần Thị M được ly hôn ông Mai Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
T NH ẮK ẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 9 - 2022
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, T NH ẮK ẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Xuân Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Y Míp Niê;

2. Bà Nguyễn Thị Chinh;

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thị Thu Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2022 , giữa:

- Nguyên đơn: Bà Ngần Thị M; trú tại: Buôn A, xã Đ, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Mai Văn C; trú tại: Buôn A, xã Đ, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Ngần Thị M trình bày:

Bà M và ông C là vợ chồng và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 01/9/2003 tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2019 đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, quan điểm làm ăn, không có tiếng nói chung, mọi việc trong gia đình ông C là người tự quyết định, sống vô trách nhiệm với vợ và các con. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho tới nay. Xét thấy tình cảm không còn nên bà M đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Mai Văn C.

Về con chung: Có 03 con chung, cụ thể: Cháu Mai Thị Thùy N, sinh ngày 04/4/2004; cháu Mai Thị Thiên N, sinh ngày 24/7/2007; Cháu Mai Thị Quý T, sinh ngày 27/8/2009. Các con chung đều phát triển bình thường. Hiện tại cháu Mai Thị Thùy N đã đủ 18 tuổi nên không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết. Các cháu Mai Thị Thiên N, cháu Mai Thị Quý T hiện tại bà M đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguyện vọng sau khi ly hôn chị M là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi chung tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định. Tuy nhiên, bị đơn ông Mai Văn C vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến ngày xét xử vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đưa vụ án ra xét xử đúng hạn luật định, thủ tục mở phiên tòa đảm bảo. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai và ý kiến của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có ý kiến như sau: Bà M và ông C là vợ chồng và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 01/9/2003 tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2019 đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà M với ông C đã sống ly thân từ năm 2019 cho tới nay. Do đó, có thể thấy tình trạng hôn nhân giữa bà M với ông C là trầm trọng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngần Thị M với ông Mai Văn C.

Về con chung: Có 03 con chung, cụ thể: Cháu Mai Thị Thùy N, sinh ngày 04/4/2004; cháu Mai Thị Thiên N, sinh ngày 24/7/2007; Cháu Mai Thị Quý T, sinh ngày 27/8/2009. Các con chung đều phát triển bình thường. Hiện tại cháu Mai Thị Thùy N đã đủ 18 tuổi nên không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết. Các cháu Mai Thị Thiên N, cháu Mai Thị Quý T hiện tại bà M đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguyện vọng sau khi ly hôn bà M mong muốn được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Mai Thị Thiên N, cháu Mai Thị Quý T. Do đó, cần giao cháu Mai Thị Thiên N, sinh ngày 24/7/2007 và cháu Mai Thị Quý T, sinh ngày 27/8/2009 cho bà Ngần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Ông Mai Văn C có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; ý kiến của Kiểm sát viên, đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ kiện “Ly hôn” và bị đơn có nơi cư trú tại xã Đ, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Ngần Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Mai Văn C mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngần Thị M và ông Mai Văn C là vợ chồng và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 01/9/2003 tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của bà M với ông C là hợp pháp. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà M đúng quy định của pháp luật.

Xét tình trạng hôn nhân của bà M với ông C: Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2019 đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, quan điểm làm ăn, không có tiếng nói chung, mọi việc trong gia đình ông C là người tự quyết định, sống vô trách nhiệm với vợ và các con. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho tới nay. Theo biên bản xác minh tại chi hội phụ nữ buôn A, xã Đ, huyện N xác định vợ chồng bà M và ông C có mâu thuẫn, có to tiếng trong gia đình. Xét thấy, hôn nhân được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ công việc với nhau nhưng bà Ngần Thị M với ông Mai Văn C thường xuyên mâu thuẫn, to tiếng trong gia đình. Hơn nữa, Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên có cơ hội quay lại đoàn tụ với nhau nhưng không thành. Từ những căn cứ trên có thể khẳng định tình trạng hôn nhân của bà Ngần Thị M với ông Mai Văn C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngần Thị M.

[2.2]. Về con chung: Quá trình chung sống, bà Ngần Thị M với ông Mai Văn C có 03 con chung: Cháu Mai Thị Thùy N, sinh ngày 04/4/2004; cháu Mai Thị Thiên N, sinh ngày 24/7/2007; cháu Mai Thị Quý T, sinh ngày 27/8/2009. Các con chung đều phát triển bình thường. Hiện tại cháu Mai Thị Thùy N đã đủ 18 tuổi nên không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết. Các cháu Mai Thị Thiên N, cháu Mai Thị Quý T hiện tại bà M đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguyện vọng sau khi ly hôn bà M mong muốn được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Mai Thị Thiên N, cháu Mai Thị Quý T cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Mai Thị Thiên N, cháu Mai Thị Quý T. Do đó, cần giao cháu Mai Thị Thiên N, sinh ngày 24/7/2007 và cháu Mai Thị Quý T, sinh ngày 27/8/2009 cho bà Ngần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Ông Mai Văn C có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn bà Ngần Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Tuy nhiên, bà Ngần Thị M là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn xin miễn giảm án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho bà Ngần Thị M.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngần Thị M về việc “Ly hôn”. Cho bà Ngần Thị M được ly hôn ông Mai Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu Mai Thị Thiên N, sinh ngày 24/7/2007 và cháu Mai Thị Quý T, sinh ngày 27/8/2009 cho bà Ngần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Ông Mai Văn C có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn chị Ngần Thị M được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã, phường và nơi họ cư trú.

Cỡ chữ