vanban.org

Bản án 36/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 25/05/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận háng cáo của chị Trần Thị Y. Giữ nguyên ản án sơ thẩ .

Xử chấp nhận ột phần yêu cầu h i iện của ông Trần Văn R (D) và bà Trần Thị Hương. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 141, tờ ản đồ số 24 đứng tên hộ ông Trần Văn R và à Trần Thị Hương với thửa đất số 142 tờ ản đồ số 24 đứng tên chị Trần Thị Y là đoạn thẳng nối từ điể A đến điể B d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trần Văn R - Trần Thị Y"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận háng cáo của chị Trần Thị Y. Giữ nguyên ản án sơ thẩ .
  • Căn cứ chính? Điều 175 Bộ luật D n sự; Điều 176 Bộ luật d n sự; Điều 203 Luật Đất đai
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/DS-PT
Ngày 25-5-2022
V/v tranh chấp ranh giới quyền sử
dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành ph n H i đ ng xét x phúc th m g m có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu

Cá Thẩm phán: Bà Vũ Thị Mai Hương

Ông Lại Văn Tùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang - Thư T a án nh n d n t nh

Na Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Ông Trần Mạnh Trường - Kiể sát viên.

Ngày 25 tháng 5 nă 2022 tại trụ s Toà án nh n d n t nh Na Định t ử phúc thẩ công hai vụ án d n sự thụ l số 05/2022/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 nă 2022 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất.

Do ản án d n sự sơ thẩ số 20/2021/DS-ST ngày 15 tháng 12 nă 2021 của T a án nh n d n huyện Nghĩa Hưng, t nh Na Định ị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử phúc thẩ số 46/2022/QĐ-PT ngày 05 tháng 5 nă 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Ông Trần Văn R (tên gọi khác Trần Thế D); sinh nă 1951;

2. Bà Trần Thị Hương; sinh nă 1955; Cùng địa ch : Đội 5 ĐL, ã NL, huyện NH, t nh Na Định.

- Bị đơn: Chị Trần Thị Y; sinh nă 1972; địa ch : Đội 5 ĐL, ã NL, huyện NH, t nh Na Định.

- Người làm hứng: Bà Trần Thị X (tên gọi hác Chu); sinh nă 1954; địa ch : Đội 5 ĐL, ã NL, huyện NH, t nh Na Định.

- Người kháng áo: Bị đơn: Chị Trần Thị Y.

Tại phiên t a phúc thẩ : Ông R, à Hương, chị Y, bà X (Chu) có ặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn h i iện và quá trình tố tụng tại T a án, nguyên đơn là ông Trần Văn R và à Trần Thị Hương đều trình bày:

Ngày 12-10-1994 ông à ua của ông Nguyễn Văn Ánh đoạn sông cụt do HTX Đồng Lạc án với chiều ặt đường phía T y dài 14 , chiều rộng 16 . Tổng diện tích là 224 2; có vị trí: Phía Bắc giáp nhà ông Chiến; phía Na giáp nhà à Chu; phía T y giáp đường dong ó ; phía Đông giáp ngõ.

Ngày 28-02-1995 ông à ua tiếp của ông Nguyễn Văn Chiến ột thổ cư có nhà nă gian và ột đoạn sông cụt cạnh thổ cư về phía Bắc thửa đất ua của ông Ánh. Chiều dài phía T y ặt đường là 24,5 , chiều rộng 16 . Tổng diện tích là 392 m2; có vị trí phía Bắc giáp nhà à Hồng; phía Nam giáp nhà ông Ánh; phía Đông giáp đường dong ó ; phía Tây là ặt đường.

Việc chuyển nhượng giữa ông à và ông Chiến được Uỷ an nh n d n (UBND) ã Nghĩa Lạc chứng thực. Sau đó, ông à đã phá dỡ ngôi nhà 5 gian và ếp ốn gian thuê người đào đất nền nhà và ột cái ếp đưa ra lấp đoạn sông liền ề đất nhà à Chu, để lấy đường sang vườn cho tiện và ông à đã là vườn cấy ía và hoai t y.

Nă 1999 à Chu án đất cho chị Y là cháu ruột để là nhà . Gia đình à Chu đã lấn sang phần đất trống của nhà ông à. Tại thời điể đó ông à đã ua lại đất của ông Ánh và ông Chiến tổng chiều dài là 38,5 theo chiều ặt đường, diện tích 640,4m2.

Nă 2001 chị Y là nhà cạnh phần đất phía Nam đất nhà ông à, hi đó hai bên ảy ra tranh chấp, do chị Y đào óng lấn sang đất của ông à và hi đó ông à đã áo cáo với chính quyền địa phương và hông cho chị Y làm nhà, sau đó chị Y ới chịu chuyển về phần đất của nhà chị Y để là , nhưng trong quá trình y dựng văng cửa sổ và văng ái nhà của chị Y lại đua sang đất của ông à là 0,5 . Hai ên gia đình ảy ra tranh chấp từ đó đến nay. UBND ã Nghĩa Lạc đã hoà giải nhưng hông thành.

Nă 2010 chị Y hoan giếng nước UNICEF sang phần đất của ông à và hai gia đình tiếp tục ảy ra tranh chấp. Sau đó chị Y đi là ăn a ít hi có ặt nhà.

Quá trình sử dụng đất à Chu, chị Y đã nhiều lần tranh chấp đất với ông à, UBND ã Nghĩa Lạc giải quyết nhiều lần hông thành, sau đó UBND huyện Nghĩa Hưng đã giải quyết tranh chấp đất đai ằng Quyết định 1442/QĐ-UBND ngày 19 tháng 4 nă 2012.

Sau hi nhận được Quyết định của UBND huyện Nghĩa Hưng về giải quyết tranh chấp đất đai, ông à đã đến ã là thủ tục và ông à đã nộp ổ sung cho số tiền của ông Ánh và ông Chiến c n thiếu. UBND ã đã công nhận hợp thức hoá toàn ộ diện tích đất ông à đang sử dụng, nên vợ chồng ông à phải nộp thê vào ho ạc là 25.155.800 đồng.

Ngày 28-11-2016 ông à đã nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện Nghĩa Hưng; ông à đã đề nghị UBND ã Nghĩa Lạc uống giao đất thực địa và sau đó ông à đã y tường ao ung quanh. Chị Y đã nhiều lần đập phá tường ao của ông à với l do ngõ đi của làng phía Bắc nhà chị Y, gần đ y chị Y lắp điều h a đã đặt cục nóng sang phần đất của ông à.

Nay ông à ác định chị Y đã lấn chiế sang đất của nhà ông à rộng 2,75m, dài 16 với tổng diện tích là 44 2 và yêu cầu chị Y phải trả lại phần đất đã lấn chiế , tháo dỡ những công trình xây lấn sang đất của ông bà và ồi thường thiệt hại do đập phá tường i.

Tại phiên t a sơ thẩ , ông R, à Hương ch yêu cầu chị Y phải trả lại phần đất đã lấn chiế và tháo dỡ những công trình đã lấn sang đất của ông bà, không yêu cầu ồi thường thiệt hại do đập phá tường i.

Tại ản tự hai và quá trình tố tụng tại T a án, ị đơn là chị Trần Thị Y trình bày:

Nă 1993 chị được ông à Đào Văn Chu nhượng lại cho 5 đất sông đấu, có vị trí: Phía T y giáp đường liên thôn, phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Văn Chung; phía Đông giáp đường làng; phía Na giáp đất nhà ông Đào Văn Chu.

Nă 1998 chị vượt lập hết 5 đất để là nhà . Nă 2001 chị y óng nhà; chị được ông ngoại là ông Trần Văn Khang và ông à Đào Văn Chu giao đất giáp gianh thẳng thổ. Khi chị đào óng ong thì bà R là người ua lại đất của ông Nguyễn Văn Chung đã ra nhận đất sang phần óng của nhà chị là 1,5 . Sau đó chị và ông à R đã ảy ra ô át rồi dẫn đến tranh chấp.

Sau đó, Uỷ an nh n d n ã Nghĩa Lạc đã hoà giải. Chị và à Chu được ời đến để dàn ếp đi đến thống nhất, à Chu để lại đủ 3 dành đường cho d n đi, để cho chị được là nhà ổn định. Khi chị là nhà được thống nhất của UBND ã Nghĩa Lạc nên chị đã là ái hiên đua ra 0,8 dài 5 dọc theo ngõ làng. Bà Chu cũng đồng và chị cũng chấp hành. Chị đã hoàn thiện nhà và từ nă 2001 cho đến nay và chị đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào nă 2008.

Để có cơ s ác định chị là nhà đua ra ngõ làng là căn cứ vào trích lục ản đồ thửa đất số 147, tờ ản đồ 24 ã Nghĩa Lạc lập nă 2007; trích lục ản đồ thửa đất này do chị in vào ngày 09-3-2009 thể hiện ngõ làng đi trên đất nhà chị vượt lập lên nên chị đã hoan 01 giếng nước hoan UNICEF nhờ trên ngõ xóm. Sau đó chị đi là ăn, nă 2019 chị về quê thì ngày 25-9-2019 nhận được thông áo của UBND ã Nghĩa Lạc có đoàn uống hảo sát đất . Chị đã nhận đủ diện tích đất của nhà chị là đúng như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về phần đất phía Bắc giáp nhà ông R, theo thông áo hảo sát nă 2012 để cấp sổ đỏ; nhưng hi hảo sát đất giáp gianh chị hông được nghe thông báo. Trong hi 2,75 đất có tranh chấp là do chị vượt lập từ l ng sông nă 1998 và theo ản đồ địa chính là ngõ ó .

Tháng 5-2020 chị nhận được giấy ời của Chủ tịch UBND ã Nghĩa Lạc lên là việc, về việc tháo dỡ tài sản của chị đã là trên ngõ ó là 1 giếng nước và ái hiên ê tông đua ra, chị ác định hông lấn chiế đất của ai.

Nay ông R và bà Hương yêu cầu chị phải trả lại phần đất đã lấn chiế và tháo rỡ những công trình y dựng trên đất lấn chiế , chị hông nhất trí vì hi chị được cấp sổ đỏ phía ay giáp đường dong. Chị là nhà ã cho ph p chị là văng đua ra ngõ chung.

Chị yêu cầu e

t về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông R và à Hương do chưa đúng trình tự, vì đó là ngõ xóm; chị hông nhận được thông áo để cấp đất cho ông R, à Hương. Toàn tập thể ó có đề nghị các an ngành các cấp có thẩ quyền giải quyết, theo đúng trích lục của ã tại thửa 147 tờ ản đồ số 24 à chị in cấp ngày 09-3-2009. Chị hông cung cấp các tài liệu liên quan đến việc ua đất với à Chu.

Tại phiên t a sơ thẩ : Người là chứng là à Trần Thị X trình bày: Bà và chị Y chung tiền đấu đất sông cụt của ã và à là người đứng ra đấu, chị Y ch góp tiền. Sau hi đấu ong thì đã tách đất cho chị Y vị trí phía Bắc thửa đất, diện tích đất tách cho chị Y ằng ức đóng góp và nay đã được cấp GCN QSD. Phía Bắc nhà chị Y có ột lối đi của ó .

Kết quả ác inh tại Ủy an nh n d n ã Nghĩa Lạc thể hiện:

Về nguồn gốc đất hộ ông Đào Văn Chu: Theo hồ sơ địa chính nă 1986 của ã Nghĩa Lạc; hộ ông Chu chưa có tên trong hồ sơ địa chính. Nă 1987 hộ ông Chu ua của ông Trần Văn Bằng 1350 m2, trong đó 360 2 đất , 770 2 đất vườn và 220 2 đất ao thuộc thửa số 133 tờ ản đồ số 8.

Về nguồn gốc đất của hộ ông R: Theo hồ sơ địa chính nă 1986 hộ ông Trần Thế R chưa có tên trong hồ sơ địa chính. Cuối nă 1986 ua của ông Nguyễn Văn Chiến 1224 m2, trong đó đất là 360 2, đất vườn 434 2 và đất ao là 430 m2 thuộc thửa số 134 tờ ản đồ số 8.

Khu đất nhà ông R đang sử dụng là nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Chiến và ông Nguyễn Văn Ánh từ nă 1994 đến 1995. Nguồn gốc hu đất này trước đ y là ột đoạn sông cụt do hông c n nhu cầu tưới tiêu phục vụ sản uất nông nghiệp và d n sinh nên HTX Đồng Lạc ã Nghĩa Lạc đã tổ chức cho các hộ đấu đất để là nhà trong nă 1991.

Nă 2000, à Chu án thửa đất 142 tờ ản đồ số 24 cho chị Trần Thị Y; đến nă 2001 thì chị Y đã y dựng căn nhà 1 tầng trên thửa đất 142.

Về việc chuyển quyền sử dụng đất của các hộ :

Ngày 28-02-1995 ông Nguyễn Văn Chiến có giấy chuyển nhượng húc sông cho ông R với chiều dài Bắc Na có số đo là 24,5 , tổng diện tích 392 2. Ngày 12-10-1994, ông Nguyễn Văn Ánh có giấy viết tay với nội dung án nhà trên diện tích đất của con trai cho ông R, à Hương.

Hộ ông Đào Văn Chu có giấy nhượng đất sông đấu cho cháu là Trần Thị Y ngày 28-4-1993 với tổng diện tích 78 2.

Hồ sơ đo đạc ản đồ theo công nghệ số nă 2007 thể hiện :

Hộ ông R được sử dụng 2 thửa đất tờ ản đồ số 24 gồ : Thửa số 143 diện tích 767,6m2 trong đó đất vườn 563,1 2, đất ao 184,5 2 ; thửa số 141 diện tích 640,4 m2, trong đó đất 284,2 2, đất 2 lúa 356,2 2. Hộ chị Y vị trí tại tờ ản đồ số 24 thửa đất số 142 diện tích 78,1m2, trong đó đất 78,1 2.

Trong nă 2008 UBND ã Nghĩa Lạc đã lập hồ sơ in cấp GCNQSDĐ d n cư cho 427 hộ, trong đó có 4 hộ đã được cấp GCN theo quyết định số 3863/QĐ-UBND ngày 17-12-2008 của UBND huyện Nghĩa Hưng, trong đó có hộ ông R vị trí tại tờ ản đồ số 24 thửa đất 43 diện tích 747,6 2, trong đó đất vườn 563,1 2, đất ao 184,5 2. Riêng thửa số 141 diện tích 640,4 2, trong đó đất 284,2 2, đất 2 lúa 356,2 2 chưa cấp GCN. Hộ chị Trần Thị Y được cấp GCNQSDĐ tại vị trí tờ ản đồ số 24 thửa 142 diện tích 78,1 m2 trong đó đất 78,1 m2.

Trong quá trình sử dụng đất, à Chu và chị Y cũng nhiều lần tranh chấp với nhà ông D (tức R) và à Hương. UBND ã đã hoà giải nhiều lần nhưng hông thành, sau đó sự việc tranh chấp đã được UBND huyện Nghĩa Hưng giải quyết ằng quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 19-4-2012 đã ác định ranh giới tiếp giáp giữa hộ chị Y và hộ ông D (tức R) được ác định theo hồ sơ ỹ thuật của thửa đất đo đạc nă 2007 (hộ chị Y được UBND huyện cấp GCNQSDĐ diện tích 78,1 2). Hộ ông Chu hông có quyền sử dụng đất có ích thước (1,5 15,66 ) = 23,49 2 tại thửa số 143, tờ ản đồ số 24.

Sự việc ảy ra tranh chấp giữa nhà ông D (tức R) và à Hương với nhà chị Y đã được UBND ã hoà giải nhưng hông thành. Nay UBND ã đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Kết quả ác inh tại Ph ng Tài nguyên và Môi trường huyện Nghĩa Hưng thể hiện:

Về nguồn gốc sử dụng đất. Theo áo cáo của UBND ã Nghĩa Lạc và các hồ sơ lưu trữ thì nă 1991 HTX Nông nghiệp Đồng Lạc thanh l ột số hu vực nhà ho s n phơi và hu đất sông cụt cho các hộ đấu là nhà để lấy inh phí y dựng đường điện hạ thế phục vụ d n sinh. Kết quả có 17 hộ đấu trúng trong đó có hộ ông Đào Văn Chu, ông Nguyễn Văn Chiến và ông Nguyễn Văn Ánh.

Theo hồ sơ hợp pháp hoá theo Ch thị 77 nă 1993 của ã Nghĩa Lạc thể hiện:

Hộ ông Đào Văn Chu vị trí tại tờ ản đồ số 08 thửa 244 diện tích đang sử dụng 430 2 (trong đó diện tích giao trái thẩ quyền 430 2, diện tích hợp pháp hoá 180m2 đất , diện tích đề nghị thu hồi 250m2 );

Hộ ông Nguyễn Văn Chiến vị trí tại tờ ản đồ số 08 thửa 242 diện tích đang sử dụng 380 2 (trong đó: diện tích giao trái thẩ quyền 380m2, diện tích hợp pháp hoá 180m2 đất , diện tích đề nghị thu hồi 200m2); hộ ông Nguyễn Văn Chiến vị trí tại tờ ản đồ số 08 thửa 243 diện tích đang sử dụng 200 2 (trong đó diện tích giao trái thẩ quyền 200 2, diện tích hợp pháp hoá 180 2 đất , diện tích đề nghị thu hồi 200 2).

Ngày 28-01-1996, ông Nguyễn Văn Chiến có giấy chuyển nhượng húc sông cho ông Trần Thế D với chiều dài Bắc Na là 24,5 , tổng diện tích 392 2 đã được Chủ nhiệ HTX Đồng Lạc

ác nhận ngày 28-02-1995. Ngày 12-10-1994, ông Nguyễn Văn Ánh có giấy viết tay với nội dung án nhà trên diện tích đất của con trai (ông Chung đấu của HTX) cho ông à Trần Thế D.

Về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất d n cư.

Thủ tục cấp GCNQSD đất cho ông R và bà Hương: Căn cứ Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 19-04-2012 của UBND huyện Nghĩa Hưng về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa hộ ông Trần Thế R và hộ ông Đào Văn Chu đội 5, HTX Đồng Lạc, ã Ngĩa Lạc; căn cứ các quy định của Luật, Nghị Định và Hướng dẫn số 42/STNMT-Tra ngày 09-01-2013 về việc lập, thẩ định, phê duyệt và thực hiện phương án ử l đối với những trường hợp sử dụng đất hông hợp pháp trên địa àn t nh Na Định; căn cứ Quyết định số 4168/QĐ-UBND ngày 05-10-2015 về việc phê duyệt phương án ử l đối với 6 hộ sử dụng đất hông hợp pháp tại ã Nghĩa Lạc. Đơn đề nghị cấp GCN giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn R và à Trần Thị Hương có ác nhận của UBND xã ; sổ dã ngoại: Chủ sử dụng đất là ông Trần Văn R ký.

Ngày 28-0-2016, UBND huyện đã cấp GCNQSD đất cho ông Trần Văn R và à Trần Thị Hương theo số CD 177953 tại vị trí tờ ản đồ số 24, thửa 141 diện tích 640,4 2.

Thủ tục cấp GCN QSD đất cho hộ chị Y: Căn cứ quyết định số 3863/QĐ-UBND ngày 17-12-2008, hộ chị Trần Thị Y được UBND huyện cấp GCNQSD đất số AO 322649 tại vị trí tờ ản đồ số 24, thửa 142 diện tích 78,1 2 đất (Nguồn gốc nhận tặng cho từ ông Đào Văn Chu hợp pháp hoá theo ch thị 77). Hộ gia đình chị Y và gia đình ông R, à Hương đã được UBND huyện Nghĩa Hưng cấp GCNQSD đất đúng quy định. Đề nghị Toà án nh n d n huyện Nghĩa Hưng giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Theo ết quả e

t, thẩ định tại chỗ và đo vẽ thực địa ngày 05-8-2021 thể hiện:

Thửa đất số 141 tờ ản đồ số 24 ã Nghĩa Lạc: Phía Bắc giáp đất nhà à Hồng dài 15,19 , phía Na giáp đất nhà chị Y dài 15,66 ; phía Đông giáp đường làng dài 39,7 , phía T y giáp đường làng dài 39,53 (thửa đất à Hương ông R đang sử dụng).

Thửa đất số 142 tờ ản đồ số 24 ã Nghĩa Lạc có các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp đất nhà ông R, à Hương dài 15,66 ; phía Nam giáp ngõ dài 15,76m; phía Đông giáp đường dài 5,06 ; phía T y giáp đường dài 4,88 (thửa đất chị Y đang sử dụng).

Vị trí đất tranh chấp: Vị trí đất đang có tranh chấp tiếp giáp đất giữa nhà à Hương, ông R với đất nhà chị Y từ óng nhà chị Y kéo ra 2,75m.

Tại vị trí đất tranh chấp có các công trình như sau: 01 giếng hoan Unicef s u 110 , 01 tường i cao 1,5 đã ị phá ột phần c n lại óng và hoảng ị phá có các chiều dài là 2 - 3,5 và 2,6 . Hiện tại đoạn Đông T y giáp gianh hông c n do ị đập; văng nhà của chị Y dài 3,6 và 4,0 , rộng 0,5 và 0,7 có tường hoa trên văng cao 0,6 . Tại hu vực đó, trước đ y nửa phía Đông là sông phía T y là đất nổi, độ s u của sông 3 so với ặt đường. Chị Y ác định phía Na thửa đất 142 tờ ản đồ số 24 giáp ngõ đi của nhà ên trong hông phải là đường làng.

Về ết quả định giá tài sản :

Về giá trị quyền sử dụng đất: Theo giá thị trường giá trị đất là 10.000.000 đồng/ 2; đất vườn ao là 9.475.000 đồng/ 2.

Về giá trị các tài sản trên diện tích đang có tranh chấp Hội đồng định giá ác định như sau: 01 văng ê tông cốt th p giá trị là 774.604 đồng, 01 tường hoa ê tông trên văng giá trị là 1.109.808 đồng, tường i y đã ị đập đổ sau giá trị là 1.464.330 đồng, 01 tường i đã ị đập đổ phía trước giá trị là 5.326.200 đồng, 01 giếng UNICEF có giá trị là 4.813.760 đồng. Công san lấp tại địa phương hiện nay là 100.000 đồng/ 3.

Tại ản án d n sự sơ thẩ số 20/2021/DS-ST ngày 15 tháng 12 nă 2021 của T a án nh n d n huyện Nghĩa Hưng, t nh Na Định đã quyết định. Căn cứ các Điều 170; Điều 203 Luật đất đai; Điều 175; Điều 176 và Điều 357 của Bộ luật d n sự; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng D n sự; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ an Thường vụ Quốc hội.

Xử chấp nhận ột phần yêu cầu h i iện của ông Trần Văn R và bà Trần Thị Hương, cụ thể:

- Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 141, tờ ản đồ số 24 đứng tên ông Trần Văn R và à Trần Thị Hương với thửa đất 142 tờ ản đồ số 24 đứng tên chị Trần Thị Y được ác định là phía Bắc phần óng nhà chị Y đã xây. Có sơ đồ è theo ản án.

- Buộc chị Y phải tháo dỡ phần văng nhà và tường hoa trên văng, văng cửa sổ là lấn sang phần đất nhà ông R, à Hương và tháo ộ phận áy điều h a (cục nóng) lắp đặt lấn sang phần đất nhà ông R, à Hương.

Giao cho ông R, à Hương được quản l sử dụng ột giếng hoan UNICEF chị Y đã hoan trên đất của ông R, à Hương. Ông R, à Hương phải có trách nhiệ thanh toán cho chị Y số tiền là 4.813.760 đồng. Chị Y được nhận ông R, à Hương số tiền là 4.813.760 đồng (giá trị giếng hoan UNICEF).

Ngoài ra, ản án sơ thẩ c n tuyên án phí và quyền háng cáo của các đương sự.

Ngày 24-12-2021 chị Trần Thị Y kháng cáo hông nhất trí với việc cấp sơ thẩ uộc chị phải tháo dỡ phần ái hiên văng trên hông, cắt ỏ hai ái che sương cửa sổ nhà, chuyển nhượng giếng UNICEF cho ông D.

Bản th n chị cũng có công trong việc vượt lập húc sông 3 ngang ặt đường, chiều dài từ T y sang Đông là 20 , chiều s u là 20 các cấp giải quyết đất công cấp cho ông D; chị hông iết thông áo về việc thu hồi diện tích ngõ ó để cấp cho ông bà D. Chị đề nghị cấp phúc thẩ

t ử lại vụ án cho tập thể à con và cá nh n chị được công inh thỏa đáng.

Tại phiên t a phúc thẩ : Ông R và à Hương giữ nguyên yêu cầu h i iện và trình ày hông chấp nhận háng cáo của chị Y đề nghị Hội đồng t ử giữ nguyên ản án sơ thẩ .

Chị Y trình bày: Bản đồ nă 2007 đo vẽ hông đúng thực tế; thực tế phía Bắc thửa đất của chị có ngõ đi. Ủy an nh n d n huyện Nghĩa Hưng cấp sổ đỏ cho hộ ông R là hông đúng đã cấp cả phần đất chị đã là nhà. Đề nghị Hội đồng t ử ngừng phiên t a để thu thập tài liệu chứng cứ chứng inh về việc quá trình phê duyệt cấp sổ đỏ cho hộ ông R và ác inh việc chị có công sức vượt lập sông cụt, cụ thể chị đã thuê ông Phạ Văn Liê ; sinh nă 1954; địa ch : Xó 5, ã Nghĩa Lạc, huyện Nghĩa Hưng; ông Thang, ông Hoá, ông Phán để vượt lập.

Bà Trần Thị X (Chu) trình bày: Bà có án cho chị Y phần đất đấu sông cụt của HTX Đồng Lạc và à đã thuê ông Liê (hiện có ặt tại phiên t a phúc thẩ ), ông Thang, ông Hóa, ông Phán và ông Qu n vượt lập thửa đất 142 của chị Y.

Ông Phạ Văn Liê do chị Y ời đến phiên t a phúc thẩ trình bày: Ông có quan hệ họ hàng với chị Y; việc à Chu đấu sông cụt của HTX Đồng Lạc ông hông iết, ông ch tha gia đắp thê vào đập để là ngõ đi và hông tha gia vượt lập thửa đất của chị Y.

Kiể sát viên - Viện iể sát t nh Na Định phát iểu iến: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a phúc thẩ chưa là rõ được số tiền 25.155.800 đồng ông à R nộp ngày 26-12-20016 tại Ng n hàng công thương là số tiền ông Chiến đấu thầu đất chưa nộp hay là số tiền thuộc phần diện tích đất đấu thầu dôi dư vượt quá 1,25 ; chưa là rõ được nguyên nh n tranh chấp phía Bắc thửa đất 142 của chị Y trước ia có ngõ đi hay hông? Tại phiên t a phúc thẩ chị Y và người là chứng là ông Liê trình ày có công san lấp vượt lập nên cần là rõ công sức vượt lập của chị Hương để ảo đả tính hách quan. Đề nghị Hội đồng t ử căn cứ Điều 304; Điều 259 Bộ luật tố tụng d n sự ngừng phiên t a để thu thập thê tài liệu chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được e t tại phiên toà căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng t ử t háng cáo của chị Trần Thị Y:

Về nguồn gốc đất ông R (tức D) và bà Hương đang sử dụng là do cuối nă 1986 nhận chuyển nhượng của ông Chiến 1224m2 trong đó đất là 360m2, đất vườn 434 m2 và đất ao là 430m2 thuộc thửa số 134 tờ ản đồ số 8 và ngày 28-02-1995 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Chiến húc sông với chiều dài Bắc Na là 24,5 diện tích 392m2. Ngày 12-10-1994 ông R, bà Hương nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Ánh có giấy viết tay với nội dung án nhà trên diện tích đất của con trai (ông Chung đấu của HTX).

Đến nă 2007 hộ ông R được sử dụng 2 thửa đất đều thuộc tờ ản đồ số 24 gồ : Thửa đất 143 diện tích 767,6m2 (trong đó đất vườn 563,1m2, đất ao 184,5m2); thửa đất 141 diện tích 640,4m2 (trong đó đất 284,2m2, đất 2 lúa 356,2m2). Nă 2008 hộ ông R được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 143 tờ ản đồ số 24 diện tích là 767,6m2. Thửa đất 141 tờ ản đồ số 24 (sau đ y viết tắt là thửa đất 141) diện tích 640,4m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nguồn gốc đất của hộ chị Trần Thị Y: Theo cung cấp của UBND ã Nghĩa Lạc vào nă 2000, à Chu án thửa đất 142 tờ ản đồ số 24 (sau đ y viết tắt là thửa đất 142) cho chị Trần Thị Y; c n theo lời trình ày của chị Y ngày 28-4-1993 hộ ông Đào Văn Chu chuyển nhượng đất đấu sông cho chị Y với tổng diện tích 78m2. Nă 2008 chị Y được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 142 diện tích là 78,1m2.

L do có việc chuyển nhượng húc sông là do hu đất này trước đ y là ột đoạn sông cụt, do hông c n nhu cầu tưới tiêu phục vụ sản uất nông nghiệp và d n sinh nên HTX Đồng Lạc, ã Nghĩa Lạc đã tổ chức cho các hộ đấu đất để là nhà trong nă 1991.

Về ác định vị trí tranh chấp: Căn cứ vào ết quả thẩ định tại chỗ ngày 05-8-2021 thì vị trí tranh chấp là phía Na thửa đất 141 đứng tên hộ ông R tiếp giáp với phía Bắc thửa đất 142 đứng tên hộ chị Y; từ óng nhà chị Y o về phía Bắc thửa đất 141 của hộ ông D là 2,75m;

Về ranh giới thửa đất 141 và thửa đất 142: Do quá trình sử dụng đất giữa hộ ông R với hộ chị Y có phát sinh tranh chấp; tại Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 19-4-2012 của UBND huyện Nghĩa Hưng đã quyết định ác định ranh giới thửa đất giữa hộ chị Y với thửa đất hộ ông R được ác định theo hồ sơ ỹ thuật thửa đất đo đạc nă 2007. Sau hi, UBND huyện Nghĩa Hưng giải quyết các đương sự hông có iến gì. Tại phiên t a, Kiể sát viên đề nghị Hội đồng t ử ngừng phiên t a để là rõ số tiền ông R đã nộp là 25.155.800 đồng vào ngày 26-12-2016 là số tiền ông Chiến đấu đất của HTX chưa nộp hay thuộc diện tích đất đấu thầu dôi dư vượt quá 1,25 . X t thấy, tại cấp sơ thẩ các đương sự hông yêu cầu giải quyết về số tiền 25.155.800 đồng và số tiền này hông liên quan đến vụ án nên đề nghị của Kiể sát viên hông được chấp nhận.

Căn cứ vào hồ sơ ỹ thuật thửa đất 141 và thửa đất 142 nă 2007 thì ranh giới giữa hai thửa đất là đoạn thẳng dài 15,66 có vị trí phía Bắc thửa đất 142 tiếp giáp với phía Na thửa đất 141.

Ranh giới thửa đất 141 và thửa đất 142 tại hồ sơ ỹ thuật thửa đất nă 2007 phù hợp với sơ đồ thửa đất 141 được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông R và phù hợp với sơ đồ thửa đất 142 được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ chị Y.

Căn cứ vào hồ sơ ỹ thuật thửa đất 141 và thửa đất 142; căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông R và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ chị Y; căn cứ vào trích thửa đất 141 và thửa đất 142 đều thuộc tờ ản đồ số 24 nă 2007 do UBND ã Nghĩa Lạc cung cấp; căn cứ vào tờ ản đồ nă 2007 do Chi nhánh văn ph ng đăng đất đai huyện Nghĩa Hưng cung cấp đều phản ánh phía Bắc thửa đất 142 đứng tên chị Y hông có ngõ đi. Do vậy, tại phiên t a Kiể sát viên đề nghị ngừng phiên t a để là rõ trước ia có hay hông có ngõ đi giữa thửa đất 141 và thửa đất 142 hông được Hội đồng t ử chấp nhận.

Quá trình giải quyết vụ án chị Y có uất trình trích lục ản đồ thửa đất 147 tờ ản đồ số 24 do chị Y được cấp ngày 09-3-2009 là ản phô tô không được công chứng hoặc chứng thực, thể hiện thửa đất 147 có diện tích là 78,1 2 phía Bắc thửa đất 147 có ngõ đi. Hội đồng t thấy, trích lục ản đồ thửa đất 147 tờ ản đồ số 24 do chị Y cung cấp cho T a án là ản phô tô hông được công chứng hoặc chứng thực, căn cứ hoản 1 Điều 95 BLTTDS quy định về ác định chứng cứ: “Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là ản chính hoặc ản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩ quyền cung cấp, ác nhận”. Do vậy, tài liệu do chị Y nộp cho T a án là trích lục thửa đất 147 tờ ản đồ số 24 không được coi là chứng cứ. Mặt hác, theo ản đồ ã Nghĩa Lạc nă 2007 tờ số 24 thể hiện thửa đất 147 đứng tên ông ( à) Chu tại vị trí phía Bắc thửa đất 147 có ngõ đi, c n tại thửa đất 142 đứng tên chị Y vị trí phía Bắc hông có ngõ đi. Vì vậy, việc chị Y cho rằng đã y văng nhà (văng ê tông cốt th p trên văng có tường hoa), văng cửa sổ, lắp cục nóng của điều h a và giếng hoan nước trên đất ngõ đi chung là không có căn cứ.

X t yêu cầu h i iện của ông R cho rằng chị Y đã lấn chiế sang đất của ông R là 44m2 yêu cầu trả phần đất này và tháo dỡ các công trình lấn sang đất ông R:

Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông R nă 2016 thì hộ ông R được quyền sử dụng 640,4m2 tại thửa đất 141, ết quả đo hiện trạng thửa đất 141 hộ ông R đang sử dụng là 622,1 2, so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông R thì hộ ông R thiếu đất tại thửa đất 141 là 640,4m2 - 622,1m2= 18,3m2 đất.

Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho chị Y nă 2008 thì chị Y được sử dụng 78,1m2 tại thửa đất 142, theo ết quả đo đạc hiện trạng thửa đất 142 hộ chị Y đang sử dụng là 78,1m2, so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ chị Y thì diện tích đất hiện trạng và diện tích đất chị Y được cấp tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ằng nhau. Như vậy, chị Y đang sử dụng đủ diện tích đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Quá trình sử dụng đất chị Y đã y nhà ái ằng ột tầng trên đất theo lời trình ày của chị Y đã y nhà từ nă 2001, nhưng nă 2012 UBND huyện Nghĩa Hưng ác định ranh giới giữa thửa đất 141 đứng tên hộ ông R và thửa đất 142 đứng tên hộ chị Y ch nêu ranh giới giữa hai nhà theo hồ sơ ỹ thuật thửa đất nă 2007 hông ch rõ ranh giới giữa hai thửa đất được ác định theo công trình đã y dựng trên đất. Vì vậy cấp sơ thẩ ác định ranh giới giữa thửa đất 141 đứng tên hộ ông R với thửa đất 142 đứng tên hộ chị Y cũng trên cơ s hồ sơ ỹ thuật nă 2007 nhưng có ch rõ hơn ranh giới giữa hai thửa đất là

p ngoài phần óng nhà ái ằng ột tầng chị Y đã y là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên t a phúc thẩ , chị Y trình bày quá trình x y dựng đã y 01 văng nhà, 02 văng cửa sổ và lắp cục nóng của áy điều h a đua hoảng không, không thuộc diện tích đất thuộc quyền sử dụng của chị đã được cấp sổ đỏ và chị cho rằng ô văng đua ra hoảng hông gian thuộc ngõ đi chung của ó . Theo ph n tích tại phần trên tại vị trí tranh chấp giữa thửa đất 141 đứng tên hộ ông R và thửa đất 142 đứng tên chị Y hông có ngõ đi chung. Căn cứ hoản 2 Điều 175 Bộ luật D n sự quy định “ Người sử dụng đất được sử dụng hông gian và l ng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất ...”. Vì vậy, Hội đồng t ử ác định hộ ông R được sử dụng hợp pháp hoảng hông tính từ ranh giới giữa hai nhà chiếu thẳng lên hông gian nên việc chị Y y phần văng nhà, văng cửa sổ và lắp đặt cục nóng của áy điều hoà đua ra hoảng hông thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ ông R là hông được chấp nhận. Đồng thời chiếu thẳng từ p ngoài của văng nhà, văng cửa sổ và cục nóng của áy điều hoà uống l ng đất thì chị Y đã lấn sang phần đất của hộ ông R, nên ông R và à Hương uộc chị Y phải tháo dỡ văng nhà, văng cửa sổ và cục nóng của áy điều h a là phù hợp.

Về giếng hoan UNICEF, tại phiên t a sơ thẩ và tại phiên toà phúc thẩ ông R, à Hương có yêu cầu ua lại giếng hoan UNICEF của chị Y, xét thấy giếng hoan của chị Y hiện đang nằ trên phần đất của hộ ông R nên cấp sơ thẩ đã giao cho ông R, à Hương được quyền s hữu giếng hoan UNICEF và có trách nhiệ thanh toán cho chị Y trị giá giếng hoan là 4.813.760 đồng là có căn cứ.

Về công vượt lập: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩ và từ hi thụ l vụ án theo thủ tục phúc thẩ đến hi ắt đầu phiên tòa chị Y không uất trình được tài liệu, chứng cứ chứng inh chị có công vượt lập khúc sông cụt tại vị trí tranh chấp. Tại phiên t a phúc thẩ , chị Y trình ày đã thuê ông Phạ Văn Liê và các người hác như ông Thang, ông Hóa, ông Phán vượt lập. Ông Phạ Văn Liê có ặt tại phiên t a phúc thẩ trình ày: Ông có quan hệ họ hàng với chị Y, việc à Chu đấu đất sông cụt của HTX ông hông iết, ông có đắp ổ sung vào cái đập để là lối đi và hông tha gia vượt lập thửa đất chị Y đang sử dụng. Bà Chu tại phiên t a trình ày đã thuê ông Liê (có ặt tại phiên toà phúc thẩ ), ông Thang, ông Hóa, ông Quân, ông Phán để vượt lập thửa đất 142 của chị Y. X t thấy, lời trình ày của chị Y, lời trình ày của ông Liêm và lời trình ày của à Chu tại phiên t a phúc thẩ về việc vượt lập húc sông cụt tại vị trí tranh chấp hông thống nhất và chị Y hông có tài liệu chứng cứ nào hác để chứng inh có công sức trong việc vượt lập.

Tại phiên t a phúc thẩ à Hương là vợ ông R trình bày: Khi vợ chồng à ua đất của ông Chiến, ông Ánh chưa có con đập. Nă 1996 gia đình bà đã thuê người phá dỡ nhà 5 gian và 04 gian ếp ua của ông Chiến, dỡ s n gạch, ể nước và 01 đống đá vôi đưa ra đắp con đập để đi sang vườn nhà à. Khi chưa có con đập gia đình ông Liê (ông Liêm có ặt tại phiên toà phúc thẩ ) đi đường hác, hi có con đập ông Liê đã đi nhờ con đập này. Theo lời hai của à Trần Thị Khấn trình bày: Vợ chồng ông R đã thuê vợ chồng à Khấn đập nhà cũ à vợ chồng ông R ua của ông Chiến và chuyển vật liệu ra lấp sông là đường vào thổ, hoảng lấp đó là chỗ giáp nhà chị Y hi đó chị Y chưa y nhà. Khi lấp ong thì vợ chồng ông R đã thanh toán tiền. Do vậy cấp sơ thẩ ác định vợ chồng ông R, à Hương là người vượt lập hu đất có tranh chấp là có căn cứ. Việc Kiể sát viên đề nghị ngừng phiên t a để thu thập tài liệu chứng cứ là rõ công vượt lập của chị Y đối với phần đất có tranh chấp hông được chấp nhận.

Từ ph n tích trên t thấy hông có căn cứ chấp nhận háng cáo của chị Y à giữ nguyên ản án sơ thẩ .

Án phí d n sự phúc thẩ : Chị Y phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ hoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 203 Luật đất đai; Điều 175; Điều 176 và Điều 357 của Bộ luật d n sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ 6/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án:

1. Không chấp nhận háng cáo của chị Trần Thị Y. Giữ nguyên ản án sơ thẩ .

2. Xử chấp nhận ột phần yêu cầu h i iện của ông Trần Văn R (D) và bà Trần Thị Hương.

- Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 141, tờ ản đồ số 24 đứng tên hộ ông Trần Văn R và à Trần Thị Hương với thửa đất số 142 tờ ản đồ số 24 đứng tên chị Trần Thị Y là đoạn thẳng nối từ điể A đến điể B dài 15,66 có vị trí

p ngoài phần óng nhà ái ằng chị Y đã y dựng. Có sơ đồ è theo.

- Buộc chị Trần Thị Y phải tháo dỡ phần 01 văng bê tông cốt th p có y tường hoa trên văng và 02 văng cửa sổ của nhà ái ằng ột tầng đã y lấn sang hoảng hông và phần đất của ông R và à Hương.

Buộc chị Y phải tháo dỡ 01 cục nóng của áy điều h a lắp đặt lấn sang hoảng hông và phần đất của ông R và à Hương.

3. Giao cho ông R và à Hương được quyền s hữu ột giếng hoan UNICEF chị Y đã hoan trên đất của ông R, à Hương.

Ông R và à Hương phải có trách nhiệ thanh toán cho chị Y số tiền trị giá giếng hoan UNICEF là 4.813.760 đồng.

Chị Y được nhận từ ông R và à Hương số tiền là 4.813.760 đồng trị giá giếng hoan UNICEF.

4. Án phí d n sự phúc thẩ : Chị Y phải nộp là 300.000đồng nhưng được đối trừ với số tiền tạ ứng án phí chị Y đã nộp là 300.000đồng tại iên lai số 0001317 ngày 28-12-2021 của Chi cục thi hành án d n sự huyện Nghĩa Hưng. Chị Y đã nộp đủ án phí d n sự phúc thẩ .

5. Các quyết định hác của bản án sơ thẩ hông ị háng cáo, kháng nghị Hội đồng t ử phúc thẩ hông giải quyết, có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Kể từ ngày ản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với hoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến hi thi hành ong tất cả các hoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành theo ức lãi suất quy định tại hoản 2 Điều 468 của Bộ luật d n sự.

Trong trường hợp ản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án d n sự.

Bản án phúc thẩ có hiệu lực thi hành ể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Mai Hương Lại Văn Tùng

Vũ Thị Thu

Cỡ chữ