vanban.org

Bản án 36/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 02/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc Điệp phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Đ phải nộp 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Ngọc Đ phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc Điệp phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2021/HSST
Ngày: 02-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Phụng.

2. Bà Trần Thị Minh Hường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoài Bảo, Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2021/HSST ngày 14 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

- Họ và tên bị cáo: Huỳnh Ngọc Đ, sinh năm 1970; tên gọi khác: H; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường M, phường N, thành phố V, tỉnh L; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ văn hóa: 01/12; bị cáo có cha tên Huỳnh Văn B (chết) và mẹ tên Hà Ngọc C (chết); bị cáo có chồng là Phan Văn H (chết) và 02 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền sự: 01 lần (Ngày 08/9/2020 bị Công an Phường N, thành phố V xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt hành chính số 0024274/QĐ-XPHC ngày 08/9/2020); tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Bà Trương Thị D, sinh năm 1963, nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện L, tỉnh V (có mặt).

2. Bà Hồ Ngọc L, sinh năm 1957, nơi cư trú: khóm 2, phường N, thành phố V, tỉnh V (có mặt).

3. Bà Lê Minh P, sinh năm 1977, nơi cư trú: đường M, phường N, thành phố V, tỉnh V (vắng mặt).

4. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965, nơi cư trú: đường M, phường N, thành phố V, tỉnh L (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 15 phút ngày 22 tháng 12 năm 2020, Công an phường N thành phố V nhận được tin báo của quần chúng nhân dân báo tin về tụ điểm đánh bạc nên đã tiến hành kết hợp cùng Đội cảnh sát hình sự Công an thành phố V tiến hành kiểm tra và bắt quả tang bị cáo Đ cùng bà D, bà L, bà P đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài thua bằng tiền trước nhà số 58/33/7 đường M, phường N, thành phố V bằng hình thức binh 06 lá. Trên chiếu bạc lực lượng công an thu giữ 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, số tiền 780.000 đồng và 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra xác định bị cáo Đ cùng với bà D, bà L và bà P đánh bạc ăn thua bằng tiền, hình thức chơi bài binh 06 lá, mỗi tụ được chia nhà cái 06 lá bài tây sau đó chia hai phần (trên và dưới mỗi phần ba lá, phần nào lớn nhất để phía trên còn phần nào nhỏ nhất sẽ để phía dưới), phần trên và dưới được tính lớn nhất là ba cào và nhỏ nhất là 0 nút, còn lại là các số có tổng cộng từ 01 đến 09. Hình thức ăn thua là một tụ "làm cái" xoay vòng một bàn ăn thua với ba tụ còn lại, mỗi bàn cược 10.000đ nếu cái thắng cả 3 tụ sẽ được 40.000đ, nếu cái hòa với tụ nào thì để lại 10.000đ và tụ đó không phạt đặt cược tiền cho ván bài tiếp theo. Số tiền 780.000đ trên chiếu bạc được cơ quan điều tra xác định: Bà P sử dụng 230.000đ để tham gia đánh bạc và để trên chiếu bạc sau đó bị thu giữ toàn bộ; bà D sử dụng 470.000đ để tham gia đánh bạc, thắng được 30.000đ và sau đó bị thu giữ toàn bộ số tiền 500.000đ; bà L sử dụng 60.000đ để đánh bạc thua hết 30.000đ và sau đó bị thu giữ toàn bộ 30.000đ; bị cáo Đ sử dụng 20.000đ để đánh bạc và bị thu giữ toàn bộ.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định bị cáo Đ đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt hành chính số 0024274/QĐ-XPHC ngày 08/9/2020 với mức phạt là 1.500.000đ, bị cáo chưa nộp phạt. Bị cáo Đ và bà D, bà P, bà L thừa nhận thời gian đánh bạc bắt đầu từ khoảng 19 giờ ngày 22/12/2021 cho đến khi bị cơ quan công an phát hiện lập biên bản. Riêng bà Nguyễn Thị H do chỉ ngồi xem và không tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Hành vi đánh bạc của bà D, bà L và bà P do chưa đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự nên đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSND-TPVL ngày 12/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc Đ ra trước Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long về tội "Đánh bạc" theo qui định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại tòa, bị cáo Huỳnh Ngọc Đ thừa nhận các lời khai trong quá trình điều tra là do bị cáo tự khai, không bị ai ép buộc và thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố.

Người làm chứng Hồ Ngọc L khai, bà L là người rủ bị cáo, bà P, bà D đánh bạc, bà H chỉ ngồi xem không tham gia, mỗi ván bài ăn thua 10.000đ.

Người làm chứng Trương Thị D khai bà L có rủ bà tham gia đánh bài cùng bị cáo Đ, bà L và bà P, mỗi ván đặt cược ăn thua 10.000đ. Bà H chỉ ngồi xem chứ không tham gia.

Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã khẳng định nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã đề nghị truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc Đ về tội "Đánh bạc" là đủ căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và giữ nguyên việc truy tố.

Kiểm sát viên nhận định, tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe lao động có thể tạo ra thu nhập, biết rõ việc của mình làm là sai trái vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện tội phạm, do đó cần có mức hình phạt tương xứng để giúp cho bị cáo sửa chữa. Xét thấy tại tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc Đ phạm tội "Đánh bạc" và áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đ nộp phạt từ 20 đến 30 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài 52 lá và 01 chiếc chiếu dùng đánh bạc.

Bị cáo Đ không tranh luận gì với Kiểm sát viên.

Bị cáo Đ nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy đánh bạc là hành vi sai trái vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Bà Lê Minh P và bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Đ: Vào lúc 22 giờ 15 phút ngày 22 tháng 12 năm 2020, bị cáo Đ bị cơ quan Công an bắt quả tang khi bị cáo cùng bà D, bà L, bà P đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài ăn thua bằng tiền trước nhà số 58/33/7 đường M, phường N, thành phố V bằng hình thức binh 06 lá. Trên chiếu bạc lực lượng công an thu giữ 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, số tiền 780.000 đồng và 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng. Trước đó, bị cáo Đ đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt hành chính số 0024274/QĐ-XPHC ngày 08/9/2020 với mức phạt là 1.500.000đ.

Tại Tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp biên bản phạm tội quả tang, tang vật chứng thu được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thu thập được. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc đánh bạc dưới hình thức ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Huỳnh Ngọc Đ đã phạm tội: "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V.

Xét hành vi phạm tội mà bị cáo Đ đã thực hiện là có lỗi, thực hiện với hành vi cố ý, xâm phạm đến các qui định và điều cấm của Nhà nước, gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện là thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó cần phải xử lý bị cáo một mức án tương xứng với hành vi, tính chất tội phạm mà bị cáo đã thực hiện cho bị cáo thấy được sai trái mà sửa chữa, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Xét thấy tại phiên tòa bị cáo Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự nhận thấy số tiền 20.000đ của bị cáo Đ dùng vào việc đánh bạc nên phải được tịch thu sung quỹ Nhà nước nhưng do cơ quan Công an phường N thành phố V đã xử lý nộp về Kho bạc nhà nước vì vậy Hội đồng xét xử không thể xử lý tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định. Mặc dù, Công an phường N thành phố V xử lý số tiền đánh bạc của bị cáo Đ là chưa phù hợp thẩm quyền theo quy định của pháp luật nhưng do số tiền cũng đã được nộp vào Ngân sách nhà nước, vì vậy Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Điều tra công an thành phố Vĩnh Long và Công an phường N thành phố V cần rút kinh nghiệm.

Đối với 01 bộ bài tây 52 lá và một chiếc chiếu đã sử dụng được bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu để tiêu hủy theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2021 của cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố V, tỉnh L.

Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135 và Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc Điệp phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Đ phải nộp 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu để tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá và 01 (một) chiếc chiếu đã sử dụng được dùng làm phương tiện phạm tội theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2021 của cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố V, tỉnh L.

4. Án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135 và Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ