- Tranh chấp gì? án hình sự — "H phạm tội Vi phạm quy định tham gia giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2021/HSST Ngày: 23-12 -2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Chí;
2. Ông Nguyễn Thành Nhi.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Thị Hàn Ni - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2021/HSST ngày 12 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
H (Tên gọi khác: C), sinh năm 1978, Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ văn hóa: 09/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông V (chết) và bà A, sinh năm 1949. Có 01 chị, 01 anh và 02 em. Họ và tên vợ: N, sinh năm 1980, Có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 20/11/2013, bị TAND thành phố Tuy Hòa tuyên phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, đã chấp hành xong - Có mặt.
- Bị hại: D, sinh năm 1993 (đã chết).
Đại diện của bị hại: Ông G, sinh năm 1967, bà P, sinh năm 1970 là cha mẹ đại diện. Bà P ủy quyền cho ông G theo văn bản ủy quyền ngày 29/3/2021. Nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Q, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện G, tỉnh Tiền Giang – Vắng mặt;
2. Bà S, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên – Có mặt;
3. Ông L, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên – Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh T, sinh ngày 27/5/2003; Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên;
2. Anh E – sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
(Cùng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 06/3/2021, H điều khiển xe ô tô biển số 78A – 089.03 (do H mua lại của bà S) lưu hành trên Quốc lộ 29 theo hướng đông – tây (Tây Hòa đi Sông Hinh). Khi đi đến Km 48+50m thuộc thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, H điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường của xe ngược chiều và đã tông vào xe mô tô biển số 63S6 – 9060 do D điều khiển lưu hành theo hướng ngược chiều gây tai nạn, hậu quả làm D chết tại chỗ, 02 xe bị hư hỏng.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 58/TgT ngày 01/4/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Nguyên nhân chết của D là gãy đốt sống cổ C3,C4, đa chấn thương.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 12/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Tây Hòa kết luận: Tại thời điểm ngày 06/3/2021, giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số 78A – 089.03 là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng); giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 63S6 – 9060 là 8.921.000đ (Tám triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn đồng), tổng thiệt hại: 26.921.000đ (Hai mươi sáu triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn đồng).
Về vật chứng và đồ vật tạm giữ: 01 xe ô tô biển số 78A – 089.03 (đã trả lại cho chủ sở hữu); xe mô tô biển số 63S6 – 9060 (đã trả lại cho chủ sở hữu).
01 giấy phép lái xe hạng C tên H.
Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện bị hại 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng); đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện bị hại tiếp tục đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 12 tháng 11 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa đã truy tố bị cáo H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng), đại diện bị hại không yêu cầu nên không xét.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng là xe mô tô của bị hại, được trả cho đại diện bị hại; xe ô tô của bị cáo đã trả cho bị cáo nên không xét. Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C tên H.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Tây Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 06/3/2021, tại Km 48+50m Quốc lộ 29 thuộc thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, H đã có hành vi điều khiển xe ô tô biển số 78A – 089.03 lưu hành theo hướng đông – tây, đi không đúng phần đường quy định, đã tông vào xe mô tô biển số 63S6 – 9060 do D điều khiển lưu hành theo hướng ngược lại gây tai nạn, hậu quả làm D chết, 02 xe bị hư hỏng, thiệt hại 26.921.000đ (Hai mươi sáu triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn đồng).
Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa truy tố bị cáo H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng người khác nên cần xử nghiêm minh, đúng quy định, tương xứng mức độ, hành vi của bị cáo, đảm bảo tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đại diện bị hại yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ nói trên, đồng thời áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng), đại diện bị hại không yêu cầu gì nên không xét.
Về vật chứng vụ án: Chiếc xe mô tô biển số 63S6 – 9060 là tài sản của bị hại, được trả cho đại diện bị hại; xe ô tô biển số 78A – 089.03 là tài sản của bị cáo đã trả cho bị cáo. Xét thấy: Bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu gì nên cơ quan điều tra Công an huyện Tây Hòa trả lại xe ô tô cho bị cáo, trả lại xe mô tô cho đại diện bị hại là đúng.
Đối với Giấy phép lái xe hạng C tên H: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại giấy phép lái xe nói trên cho bị cáo H.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Q thống nhất xe mô tô biển số 63S6 – 9060 đã bán cho bị hại D, không yêu cầu gì; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án S, L thống nhất xe ô tô biển số 78A – 089.03 đã bán cho H, không yêu cầu gì nên không xét.
Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo: H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo H 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Khi bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C tên H.
Về án phí HSST: Bị cáo H phải chịu: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND huyện Tây Hòa; - Công an huyện Tây Hòa; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND tỉnh Phú Yên; - UBND xã Hòa Phú; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Huệ |