- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tuấn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 36/2021/HSST Ngày 22-3-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Thuận
2. Ông Dƣơng Tấn Đấu
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Chí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Sơn Thái Phong - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 23/2021/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
- Lê Tuấn K, sinh năm: 1998, tại: Đồng Tháp; Nơi ĐKHKTT: Ấp BL, xã BT, huyện CL, tỉnh ĐT; Nơi ở: Không có nơi ở ổn định; Nghề nghiệp: Làm thuê; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Anh T và bà Trần Lệ H; Anh chị em ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2003; Bị cáo chưa có vợ. Tiền án; Không. Tiền sự: Không. Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-12-2020 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 14-12-2020, Lê Tuấn K gọi điện thoại cho người tên T (chưa rõ nhân thân) để mua ma túy, T đồng ý bán với giá 3.500.000 đồng và hẹn K đến khu vực Bãi ĐĐ thuộc kp 6, phường AT, thành phố PQ để nhận, K về chia ra thành 06 bịch nhỏ.
Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 16-12-2020, K lấy 02 bịch ma túy giấu trong gói thuốc Hero bỏ vào túi quần và đón xe đi về nhà nghĩ PH thuộc ấp SL, xã DT để sử dụng, vừa đến nhà nghĩ thì bị lực lượng Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4 phối hợp với Công an xã DT kiểm tra phát hiện K đang tang trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt quả tang. Ngày 23-12-2020 K bị Cơ quan điều tra - Công an thành phố PQ khởi tố bắt tạm giam.
Vật chứng thu giữ:
- 06 bịch nylon màu trắng, hàn kín, kích thước lần lượt là 3,2cm x 01cm; 03cm x 01cm; 03cm x 01cm; 03cm x 0,5cm; 07cm x 04cm; 04cm x 3,5cm, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất, đã được niêm phong;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng xám, số IMEI: 355876062502186, đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số: 655/KL-KTHS ngày 17-12-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh KG kết luận: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 06 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,5468 gam.
Bản cáo trạng số: 47/CT-VKSPQ ngày 22 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ đã truy tố bị cáo Lê Tuấn K, về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Lê Tuấn K từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về vật chứng thu giữ: Áp dụng khoản 1, Điều 47 BLHS và khoản 2, Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định 2,9300 gam và tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng xám, số IMEI: 355876062502186, đã qua sử dụng, do bị cáo đã dùng vào việc phạm tội.
Đối với người tên T bán ma túy cho K, hiện chưa rõ nhân thân, nơi cư trú, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Tuấn K
khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu, bị cáo không khai thêm tình tiết mới. Bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố không bị ép cung, bức cung hay nhục hình. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố PQ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về căn cứ kết tội bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong các giai đoạn điều tra, truy tố phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào ngày 16-12-2020 Lê Tuấn K tàng trữ trong người 2,5468 gam ma túy loại Methamphetamine đi đến đến nhà nghĩ PH thuộc ấp SL, xã DT, thành phố PQ với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức ma túy là loại chất cấm, do nhà nước là chủ thể độc quyền quản lý. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi phạm pháp luật sẽ bị chế tài nghiêm khắc của pháp luật hình sự. Để thỏa cơn nghiện của mình, bị cáo bất chấp pháp luật cố ý lao vào con đường phạm tội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Trực tiếp, tiếp tay tích cực cho những tệ nạn xã hội ngày càng phát triển, đây là mối đe dọa chung cho cộng đồng và cho toàn xã hội. Vì vậy, cần xử các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Nhưng dù có giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo HĐXX cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội đối với loại tội phạm này.
. Về xử lý vật chứng: Xét thấy 01 bịch nilon + mẫu có khối lượng 2,9300 gam Methamphetamine, mẫu vật hoàn lại sau giám định. Đây là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng xám, số IMEI: 355876062502186, đã qua sử dụng, do bị cáo đã dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
. Về án phí: Bị cáo Lê Tuấn K phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Tuấn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam ngày 16-12-2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy 2,9300 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, được niêm phong có dấu tròn đỏ của Trung Tâm Pháp y, dòng chữ “Mẫu vật giao trả sau giám định vụ 20008.PY/2020/HP” có chữ ký xác nhận của Giám định viên. Tịch Thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng xám, số IMEI: 355876062502186, đã qua sử dụng.
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22-3-2021)
3. Về án phí: Bị cáo Lê Tuấn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang./.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp Kiên Giang; - VKS ND Tp.Phú Quốc; - THA Dân sự Tp.Phú Quốc; - TAND tỉnh Kiên Giang; - Nhà tạm giử CATP.Phú Quốc - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Trƣơng Văn Kiệt |