vanban.org

Bản án 36/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 17/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "K tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 36/2021/HSST
Ngày: 17 - 8 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Công Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Phẩm

2. Ông Huỳnh Văn Thanh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít tỉnh Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2021/HSST, ngày 22 tháng 6 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST- HS, ngày 30 thán 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Dƣơng Văn K, sinh năm 1997 tại Bệnh viện đa khoa huyện M. Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; trình độ học vấn: lớp 10/12; nghề nghiệp: Làm thuê; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông Dương Văn T và bà Trần Ngọc D. Anh, chị, em ruột 02 người lớn nhất bị cáo. Tiền sự: 01 (ngày 13/5/2020 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long phạt 750.000 đồng); tiền án: không có; nhân thân: bị cáo Bị cáo K không có án tích, không bị xử lý vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật đã được xóa. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 03/4/2021 và bị tạm giữ, tạm giam ngày 04 tháng 4 năm 2021 cho đến nay, hiện đang có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Ngọc D, sinh năm 1979

Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NHẬN THẤY:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Ngày 03/4/2021, bị cáo Dương Văn K, sinh năm 1997 điều khiển xe mô tô 64F7-5536 trên đường đi thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, khi đến ngã ba “Cổng chào” huyện M gặp đối tượng tên K1 (không rõ ho ̣ tên và đi ̣a chi) có đưả cho bị cáo Bị cáo K 01 nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy và K1 cho bị cáo K 02 (hai) bịch ma túy. Sau khi nhận xong, bị cáo K quay về, đến nhà trọ Hà Tiên 2 thuộc địa bàn ấp T1, xã T2, huyện M, tỉnh Vĩnh Long lúc này khoảng 23 giờ thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện 02 (hai) bịch nylon của bị cáo K cất giữ, do nghi là ma túy nên tiến hành niêm phong, thực hiện thủ tục giám định theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số 178/KLĐG-PC09 ngày 05/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận như sau:

Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 02 (hai) bịch nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1829 gam, loại: Methamphetamine.

Ngày 06/4/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M quyết định khởi tố bị can đối với Dương Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra Dương Văn K đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với chất ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định: 0,1392 gam; 01 (một) nỏ thủy tinh dùng để sử du ̣ng ma túy tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Đối với xe mô tô biển số 64F7-5536. Cơ quan điều tra xác định là tài sản bị cáo mượn từ bà Trần Ngọc D, không biết bi ̣ cáo K đi mua ma túy và tàng trữ trái phép nên đã trả lại xe cho bà D.

Đối với đối tượng tên K1 do Cơ quan Công an chưa làm việc được, khi làm việc được sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS, ngày 18 tháng 6 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Dương Văn K về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị tuyên bố bị cáo Bị cáo K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo K.

Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy 0,1392 gam chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 (một) nỏ thủy tinh dùng để sử du ̣ng ma túy.

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí toà án, buộc bị cáo K nộp 200.000đồng.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy như sau.

XÉT THẤY:

Về tố tụng:

Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện tại xã T2, huyện M, tỉnh Vĩnh Long nên Tòa án nhân dân huyện M xét xử là đúng theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2 ] Về nội dung:

Tại phiên toà, bị cáo K khai nhận: Ngày 03 tháng 4 năm 2021 tại nhà trọ Hà Tiên 2, thuộc ấp T1, xã T2, huyện M, tỉnh Vĩnh Long bị cáo Dương Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1829 gam.

Xét, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nội dung bản cáo trạng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại toà, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết quả giám định và phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận Dương Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như chúng ta đều biết, ma túy là chất hướng thần. Người sử dụng sẽ bị kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, người sử dụng nhiều sẽ gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, dễ bị kích động thần kinh theo hướng tiêu cực, làm suy giảm khả năng lao động, dễ dẫn đến những tệ nạn xã hội khác như: trộm cắp, cướp giật hoặc là một trong những nguyên nhân dẫn đến căn bệnh HIV. Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm những hành vi trồng, sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy. Mọi hành vi vi phạm đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo là người đã bị phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không ăn năn, hối cải mà tiếp tục thực hiện tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Đi ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông ngoại là người có công được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Do bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS năm 2015 và Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,1392 gam chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) nỏ thủy tinh dùng để sử du ̣ng ma túy (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2021).

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí toà án. Xử:

Phạt bị cáo Dương Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo K bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04 tháng 4 năm 2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Dương Văn K vì bị cáo không có thu nhập ổn định.

2. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1392 gam chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) nỏ thủy tinh dùng để sử du ̣ng ma túy (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2021).

3. Án phí: Buộc bị cáo Dương Văn K nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (Hai trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ