vanban.org

Bản án 36/2021/HS-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Nguyễn Văn A. Về con chung: Bà H và ông A xác nhận có 2 người con chung là Nguyễn Minh Khang, sinh năm 1998, đã trưởng thành, phát triển bình thường và Nguyễn Minh Thịnh, sinh ngày 04/6/2003. Giao con chung là Nguyễn Minh Thịnh cho ông A trực tiếp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn A Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số: 36/2021/HNGĐ-ST
Ngày 25-5-2021
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy và bà Trần Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 515/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2021/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải tại tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn A tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn, có tổ chức đám cưới. Đến năm đến năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, thường cãi nhau, ông A dùng dao chém bà và hay đập phá đồ đạc trong nhà nên bà nhờ anh rể của bà vào nhà bưng ti vi đi cất dùm thì bị ông A chém bị thương. Hiện nay, ông A hay theo dõi chặn xe bà khi bà đi làm, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của bà. Vợ chồng bà hiện nay đã sống ly thân. Vợ chồng có gặp nhau nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay bà H nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với ông A được nữa. Vì vậy bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông A.

Về con chung: Bà H và ông A có 2 người con chung là Nguyễn Minh Khang, sinh năm 1998, đã trưởng thành, phát triển bình thường và Nguyễn Minh Thịnh, sinh ngày 4/6/2003. Bà H yêu cầu giao con chung là Nguyễn Minh Thịnh cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng và bà H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo bản tự khai, biên bản hòa giải tại tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn A trình bày:

Bà H và ông A tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau và đăng ký kết hôn vào năm 2011. Thời gian đầu, chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, hay cãi nhau. Tuy nhiên, những mâu thuẫn này không quá trầm trọng. Ông xác nhận có dùng dao để dọa với người khác chứ không dùng dao dọa hay chém bà H nhưng phải có lý do (do nửa đêm anh rể vào nhà lấy ti vi của nhà ông nên ông có dùng dao để dọa và làm anh rể bị thương). Mặc khác, bà H hay có thái độ chửi bới ông thường xuyên. Việc ông theo dõi chặn đường bà H là để gặp mặt bà H để nói chuyện với nhau vì cả 02 tuần bà H không về nhà. Nay ông thấy mâu thuẫn vợ chồng vẫn giải quyết được nên ông không đồng ý ly hôn với bà H.

- Về con chung: Bà H và ông A có 2 người con chung là Nguyễn Minh Khang, sinh năm 1998, đã trưởng thành, phát triển bình thường và Nguyễn Minh Thịnh, sinh ngày 04/6/2003. Trường hợp Tòa án cho ly hôn, ông có nguyện vọng được nuôi con chung là Nguyễn Minh Thịnh, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà H giao con chung là Nguyễn Minh Thịnh, sinh ngày 04/6/2003 cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng và bà H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông A không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông A tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy, sự mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông A là có thật; ông A thừa nhận vợ chồng thường hay cãi nhau và có dùng dao dọa chém bà H và còn dùng dao làm anh rể bà H bị thương. Vợ chồng không có sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ buồn vui cùng nhau, bất đồng quan điểm nên hiện nay đã sống ly thân. Như vậy, quan hệ hôn nhân của ông A và bà H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.

Về con chung: Bà H và ông A xác nhận có 2 người con chung là Nguyễn Minh Khang, sinh năm 1998, đã trưởng thành, phát triển bình thường và Nguyễn Minh Thịnh, sinh ngày 04/6/2003. Bà H yêu cầu giao cháu Nguyễn Minh Thịnh cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, ông A có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Minh Thịnh nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H và ông A, giao cháu Nguyễn Minh Thịnh cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng. Ông A không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông A không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Bà H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Nguyễn Văn A.

- Về con chung: Bà H và ông A xác nhận có 2 người con chung là Nguyễn Minh Khang, sinh năm 1998, đã trưởng thành, phát triển bình thường và Nguyễn Minh Thịnh, sinh ngày 04/6/2003. Giao con chung là Nguyễn Minh Thịnh cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Nguyễn Thị H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông A không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

2. Án phí: Áp dụng Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 04329 ngày 01/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, bà H đã nộp xong.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ