vanban.org

Bản án 36/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 05/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cấm bị cáo Trịnh Xuân H hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong bản án.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Xuân H tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Cấm bị cáo Trịnh Xuân H hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong bản án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2021/HS-ST
Ngày 24 tháng 3 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái

Các Hội thẩm Nhân dân : Bà Nguyễn Thị Thúy Nga và bà Vũ Thị Kim Dung

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ánh Tuyết - Thư ký Toà án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 178/2020/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 06/2021/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:

Trịnh Xuân H sinh ngày 27/01/1984 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Hiển L, xã Cao M, thành phố Phúc Y, tỉnh Vĩnh P; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Xuân Trvà bà Dương Thị T; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 ; con: có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2020 cho đến nay (có mặt).

Bị hại:

- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 (đã chết); trú tại: Tổ dân phố Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện hợp pháp cho chị Nguyễn Thị H: Ông Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1954; bà Nguyễn Thị Khoa, sinh năm 1958; anh Nguyễn Đức Quang, sinh năm 1976, anh Nguyễn Đức Quý, sinh năm 1998 và anh Nguyễn Đức Kiên, sinh năm 2000; đều trú tại: Tổ dân phố Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (Anh Quang, anh Kiên có mặt còn lại đều vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Minh, bà Khoa, anh Quý, anh Kiên: Anh Nguyễn Đức Quang, sinh năm 1976; trú tại: Tổ dân phố Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

- Chị Nguyễn T H, sinh năm 1971; trú tại: Tổ dân phố Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp cho chị Nguyễn T H: Anh Nguyễn Đức Thủy, sinh năm 1970; trú tại: Tổ dân phố Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Nguyên đơn dân sự: Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Thành Công; địa chỉ: Tổ dân phố 1, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Do ông Nguyễn Trọng Nam – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn dân sự: Anh Nguyễn Chí Thành, sinh năm 1971; trú tại: Tổ dân phố Hoàng Mười, phường Cổ Nhuế, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam; địa chỉ: Tầng 1,6,7 tòa nhà CornerStone, 16 Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; người đại diện theo ủy quyền: Anh Lê Anh Ngọc – Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (Văn bản ủy quyền số 1353220 ngày 20/3/2020), (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17h ngày 17/4/2020, Trịnh Xuân H mượn xe ô tô nhãn hiệu Huyndai I10, màu sơn trắng, BKS: 30E- 714.30 của anh Nguyễn Chí Thành, sinh năm 1971 rồi điều khiển xe ô tô từ Hà Nội về nhà ông Nguyễn Văn Sáo là bố vợ H ở thôn Vân Tập, xã Vân Hội, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc chơi. Trên đường đi về H ghé qua nhà đón hai con gái là cháu Trịnh Thị Hoa, sinh năm 2007 và cháu Trịnh Bình Minh, sinh năm 2014 đi cùng. Khi đến nơi H đỗ xe ô tô ngoài cổng nhà ông Sáo rồi dẫn 02 con vào thăm ông bà ngoại, tại đây H có dùng cơm tối với ông Sáo và anh Đinh Văn Phú, anh Nguyễn Văn Nhượng là anh em đồng hao với H , trong bữa ăn H có uống khoảng 3 đến 4 ly rượu trắng thì ông Sáo không cho uống nữa vì còn lái xe ô tô về. Sau khi ăn cơm xong nghỉ ngơi đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H điều khiển xe ô tô cùng 02 con ra về, khi về H đi theo đường tỉnh lộ 305 hướng phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên. Khi đi qua đường tàu cắt ngang đường tỉnh lộ 305 thuộc Tổ dân phố Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc do đường gồ ghề nên chiếc điện thoại di động của H để trong hốc xe bị rơi xuống sàn xe ô tô, do thấy đường vắng, ít phương tiện đi lại nên H chủ quan không chú ý quan sát đường, điều khiển xe với tốc độ cao, tay trái lái xe còn tay phải mò tìm điện thoại dưới sàn xe ô tô. Khi H lái xe đến trước cửa số nhà 42, đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên do không chú ý quan sát phía trước, không làm chủ tốc độ nên xe ô tô do H điều khiển đã đâm vào phía sau chị Nguyễn T H, sinh năm 1971 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 đang đi bộ dàn hàng ngang dưới lòng đường sát vỉa hè hướng Tam Dương đi ngã tư Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên. Tai nạn xảy ra hất văng chị T Hlên vỉa hè trước cửa số nhà 38A, còn Chị Hbị hất văng lên vỉa hè trước cửa số nhà 40 đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xe ô tô mất lái tiếp tục di chuyển đâm vào thùng rác bằng nhựa để trên vỉa hè làm xe ô tô bị vỡ kính chắn gió phía trước, bung bazosoc trước, móp méo nắp ca bô, cong cần gương chữ A, rơi ốp gương chiếu hậu bên phải. Sau khi gây tai nạn, H sợ bị phát hiện nên điều khiển tăng tốc xe ô tô bỏ chạy khỏi hiện trường nhằm trốn tránh trách nhiệm. Lúc này, nghe thấy tiếng va đập mạnh, cháu Hoa nghĩ là H đã đâm trúng vào người đi đường nên hỏi H “có sao không bố” thì H nói “không sao” nên cháu Hoa tin tưởng không hỏi gì nữa. Sau đó, H tiếp tục tăng ga điều khiển xe đưa cháu Hoa và cháu Minh về nhà tại thôn Hiển Lễ, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên rồi lái thẳng xe về Hà Nội để tìm Gara sửa xe ô tô sửa xe nhằm xóa hết dấu vết tai nạn và trốn tránh trách nhiệm trước cơ quan Công an. Khoảng 6 giờ 30 ngày 18/4/2020, H lái xe ô tô gây tai nạn đến gara ô tô Đức Huy, địa chỉ số 438 đường Lạc Long Quân, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội để sửa chữa nhằm xóa dấu vết vụ tai nạn, anh Trần Văn Huy là chủ gara ô tô Đức Huy báo giá sửa xe cho H là 5.850.000đ, H đồng ý. Đối với Chị Hvà chị T H sau khi bị H đâm vào đã được quần chúng nhân dân và người nhà đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc, đến 23 giờ cùng ngày Chị Htử vong.

Khoảng 20 giờ ngày 19/4/2020, bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1965 là mẹ vợ của H khi thấy cơ quan Công an đến thôn Vân Sau, xã Vân Hội, huyện Tam Dương truy tìm xe ô tô gây tai nạn giống với xe của H đi nên đã gọi điện cho vợ H là chị Nguyễn Thị H báo về việc trên cho Hương biết. Đến 07 giờ ngày 20/4/2020, Chị Hgọi điện hỏi H gây tai nạn phải không và công an đang tìm trên bà ngoại thì H nhận đã gây tai nạn đâm vào chị Hoa, Chị Hthấy vậy Chị Hkhuyên H ra cơ quan Công an đầu thú. Đến 13 giờ 30 cùng ngày H ra Công an phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đầu thú, tại đây H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đồng thời tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an 01 giấy phép lái xe ô tô và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Trịnh Xuân H .

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc: Là đoạn đường hai chiều ngăn cách bởi vạch sơn vàng đứt đoạn, được trải áp phan bằng phẳng, một chiều đi xã Vân Hội, huyện Tam Dương, chiều còn lại hướng đi ngã tư Quán Tiên. Toàn bộ lòng đường rộng 8,1m, làn đường hướng đi Tam Dương rộng 4,55m. Hai bên là hai dãy vỉa hè có kích thước 3,2m. Toàn bộ hiện trường xảy ra vụ tai nạn nằm trên làn đường và vỉa hè chiều đi ngã tư Quán Tiên. Hiện trường đã bị xáo trộn một phần do quá trình đưa người bị thương đi cấp cứu.

Quy ước đánh số thứ tự dấu vết:

(1) Là đám mảnh chất rắn màu trắng, kích thước: (0,45 x 0,3)m.

(2) Là đám dịch màu nâu đỏ (dạng máu), kích thước: (1,23 x 1,46)m.

(3) Là đám mảnh vỡ nhựa trong đó có 1 tấm nhựa màu trắng dạng ốp gương chiếu hậu, kích thước: (1,1 x 0,93)m.

(4) Là đôi giày đen đế trắng có nhãn hiệu Gucci.

(5) Là đám dịch màu mâu đỏ (dạng máu), kích thước: (0,46 x 0,16)m.

(6) Là đôi giày đen đế trắng nhãn hiệu MTHGH có cùng nhãn hiệu, cùng kích thước.

Xác định điểm mốc: Là cột điện nằm ở mép đường hướng đi xã Vân Hội, huyện Tam Dương, ký hiệu 9ABQT2. Xác định mép chuẩn là mép đường Nguyễn Thị Minh Khai hướng đi ngã tư Quán Tiên (mép phải đường).

Phát hiện đám mảnh chất rắn màu trắng trên mặt đường có kích thước (0,06x0,37)m, tâm đám vết cách mếp chuẩn kích thước:0,45m, cách mốc chuẩn là cột điện 54ABQT2 là 10,83m, đám vết này được ký hiệu 01 trên sơ đồ hiện trường.

Từ vị trí đám mảnh chất rắn màu trắng hướng đi ngã tư Quán Tiên 3,77m trên vỉa hè có đám dịch màu nâu đỏ có kích thước (1,23x1,46)m tâm vết cách mép chuẩn 1,73m đám vết này được ký hiệu số 2 trên sơ đồ hiện trường.

Từ tâm đám dịch màu nâu đỏ đi hướng ngã tư Quán Tiên 1,5m là đám mảnh vỡ nhựa màu trắng trên diện (1,1x0,93)m trong đó có một tấm nhựa dạng ốp gương chiếu hậu xe ô tô có kích thước (0,26x0,16)m. Tâm vết cách mép chuẩn 2,18m đám dấu vết này được ký hiệu số 3 trên sơ đồ hiện trường.

Phát hiện một đôi giày màu đen đế trắng có cùng kích thước (0,24x0,1)m chiếc giày gần nhất cách tâm mảnh vỡ nhựa màu trắng 0,7m và cách mép chuẩn 1,87m vị trí đôi giày này được ký hiệu số 4 trên sơ đồ hiện trường. Hai chiếc giày này cách nhau 0,52m.

Phát hiện trên vỉa hè có đám dịch màu nâu đỏ kích thước (0,46x0,6)m tâm dấu vết cách hai đôi giày (số 4) hướng đi ngã tư Quán Tiên là 3,25 m và cách mép chuẩn 2,09m đám dịch này được ký hiệu số 5 trên sơ đồ hiện trường.

Phát hiện đôi giày màu đen đế trắng dọc theo mép chuẩn, mỗi cái cách nhau 1,5m chiếc giày gần nhất cách vị trí (số 5) kích thước 0,9m đôi giày được ký hiệu số 6 trên sơ đồ hiện trường.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên tiến hành thu giữ: 01 ốp gương chiếu hậu bên phải, màu trắng; 02 đôi giày nữ và 01 đám nhựa màu sáng rơi vỡ tại hiện trường.

Ngày 20/4/2020, cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên thu giữ tại Gara ô tô Đức Huy 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai I10 màu trắng, BKS: 30E – 714.30 kính chắn gió trên xe bị hư hỏng và xe đã được thay thế gương chiếu hậu bên phải và sơn lại nắp capo xe ô tô. Thu giữ: 01 hóa đơn thanh toán khắc phục sữa chữa xe ô tô và 01 báo giá sửa chữa xe ô tô BKS: 30E – 714.30.

Khám nghiệm xe mô tô BKS: 29F1 – 175.06 xác định:

Là xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand I10 màu sơn trắng, BKS: 30E – 714.30, loại xe 05 chỗ ngồi, có chiều dài thực tế là 3,76m; chiều rộng đầu xe là 1,66m.

Khám dấu vết trên xe phát hiện:

Toàn bộ kính chắn gió phía trước bị nứt vỡ kích thước (86x126)cm. Tâm đám vết cách mép kính bên phải 36cm, cách mép kính phía trước 22cm, chiều hướng đám vết từ trước về sau, từ trên xuống dưới.

Tại vị trí góc bên phải phía dưới của kính chắn gió bị vỡ hoàn toàn tạo thành lỗ thủng kích thước (40x20)cm, các mảnh kính vỡ rơi vào bên trong xe chiều hướng từ trước về sau từ trên xuống dưới.

Đoạn dây cao su màu đen được sử dụng đệm kính chắn gió bên phải bị bung bật khỏi vị trí ban đầu còn gắn trên xe kích thước (86x1)cm.

Phần ốp nhựa bên ngoài đèn chiếu sáng bên phải bị vỡ hoàn toàn để lộ phần bóng đèn chóa đèn bên trong kích thước (70x23)cm vị trí vỡ thấp nhất cách mặt đất 67cm, ví trí cao nhất cách mặt đất 87cm.

Phần chóa đèn chiếu sáng bên phải bị gãy vỡ kích thước (7x6)cm vị trí thấp nhất cách mặt đất 67cm.

Đầu ba đờ sốc bên phải phát hiện đám cà xước bong chóc sơn kích thước (10x0.5)cm chiều hướng từ phải sang trái.

Đầu góc bên phải BKS: 30E-714.30 phía trước phát hiện đám vết vỡ nhựa kích thước (11x2)cm vị trí thấp nhất cách mặt đất 42cm, vị trí cao nhất cách mặt đất 53cm.

Trên bề mặt BKS: 30E-714.30 tại vị trí chữ E phát hiện đám cà xước nhựa kích thước (3x2)cm chiều hướng từ phải sang trái.

Ngoài ra không phát hiện dấu vết gì khác, xe ô tô bị hư hỏng nhẹ. Hệ thống đèn, còi, phanh, xi nhan còn tác dụng.

Ngày 18/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên quyết định trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc xác định nguyên nhân tử vong của chị Nguyễn Thị H.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 41/TT ngày 22/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“1) Dấu hiệu qua giám định: Ít vết thương rách da cơ, nhiều vết xây sát da và bầm tím. Chấn thương sọ não nặng, dập vỡ xương hộp sọ vùng trán và vùng chẩm. Dập vỡ xương bả vai phải.

2) Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị H: Sốc đa chấn thương không hồi phục”.

Tại Bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc ngày 08/5/2020 khám cấp cứu cho chị Nguyễn T H xác định: Vào viện ngày 17/4/2020, chẩn đoán lúc vào viện: Chấn thương sọ não.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 310/TgT ngày 05/8/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc xác định:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định: Vỡ xương thái dương trái (giảm hoạt động điện não), xếp 15%; gãy cung tiếp gò má trái, can tốt, không ảnh hưởng chức năng, xếp 09%; máu tụ ngoài màng cứng hố thái dương bên trái đã điều trị ổn định không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh, xếp 05%; sẹo vết thương phần mềm vùng trán đỉnh bên trái, xếp 02%; sẹo vết thương phần mềm giữa trán lệch phải, xếp 03%; sẹo vết thương phần mềm vùng chẩm bên phải, xếp 02%; sẹo vết thương phần mềm mặt trước gối trái, xếp 01%; sẹo vết thương phần mềm mặt sau cẳng chân trái, xếp 01%; sẹo vết thương phần mềm mặt mu ngón 5 bàn chân phải, xếp 01%; gãy các cung xương sườn 4, 5, 6, 7 ngực phải, mỗi xương sườn xếp: 02%, 02%, 02%, 02%. Cơ chế hình thành vết thương: vết thương đã mô tả trên là do vật tày gây nên.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên ở thời điểm hiện tại là 39% (theo phương pháp cộng tại thông tư)”.

Ngày 27/4/2020, cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên ra quyết định trưng cầu số 210 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định dấu vết cơ học đối với 10 mảnh nhựa vỡ sáng màu thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn giao thông so sánh với 01 cụm đèn chiếu sáng bên phải xe ô tô, BKS: 30E – 714.30 bị vỡ phần kính nhựa sáng màu bên ngoài.

Tại kết luận giám định số 1021 ngày 06/5/2020 xác định: “10 mảnh nhựa sáng màu gửi giám định khi ghép lại thì có các cạnh trùng khớp với nhau và trùng khớp với cạnh bị vỡ trên mẫu gửi so sánh”.

Tại biên bản xác định nồng độ cồn trong máu của Trịnh Xuân Hlà 0,000mg/l.

Ngày 27/4/2020, cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên quyết định Trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định ma túy trong mẫu nước tiểu thu của Trịnh Xuân H .

Tại kết luận giám định số 1029 ngày 07/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc xác định: “Không phát hiện thành phần chất ma túy (Morphin, MDMA, Methamphetamine, Delta – 9- tetrahydrocanabinol và Ketamine) trong mẫu chất lỏng màu vàng nhạt ghi là nước tiểu của Trịnh Xuân H ”..

Ngày 30/6/2020, cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 USB lưu giữ hình ảnh vụ tai nạn giao thông. Tại kết luận giám định số 1780 ngày 21/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc xác định:“Chụp được 09 ảnh diễn biến vụ tai nạn giao thông xuất hiện trong tệp video lưu trong USB gửi giám định. Ảnh chụp và mô tả được in vào bản ảnh giám định”. Qua hình ảnh giám định xác định có 02 người đang đi bộ dưới lòng đường giáp vỉa hè thì có xe ô tô màu trắng đi cùng chiều đâm từ phía sau hất văng 02 người đang đi bộ sau đó bỏ chạy khỏi hiện trường.

Ngày 16/6/2020, cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên có Lệnh thu giữ thư tín, điện tín số 13 đối với 04 số điện thoại 0967033585, 0983120160 của Trịnh Xuân Hvà 0329899291, 0373447365 của chị Nguyễn Thị H (vợ H ). Tại văn bản phúc đáp lệnh thu giữ thư tín, điện tín số 3215 ngày 29/6/2020 của Tập đoàn công nghiệp – viễn thông quân đội xác định: Vào ngày 19/4/2020 giữa Chị Hvà H có gọi điện thoại qua lại cho nhau 06 cuộc.

Ngày 05/6/2020 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên ra yêu cầu định giá tài sản số 279 yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Công an thành phố Vĩnh Yên xác định giá trị thiệt hại phần hư hỏng đối với xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand I10, màu sơn trắng BKS: 30E – 714.30 (xe cũ đã qua sử dụng). Tại kết luận định giá số 82/KL - HĐĐG ngày 12/6/2020 kết luận: 01 kính chắn gió phía trước trị giá 2.500.000đ; 01 cụm đèn chiếu xa bên phải, trị giá 3.500.000đ. Tổng trị giá thiệt hại là 6.000.000đ.

Đối với chi phí sửa chữa xe ô tô, BKS: 30E – 714.30, xét thấy: Khi H đem xe ô tô đến gara của anh Huy để sửa chữa thì xe bị bung bật bazdsoc, nắp capo bị cong vênh, móp méo, đèn pha bên phải bị vỡ, kính chắn gió phía trước bị vỡ, ốp gương bên phải không còn, cột kính chữ A bên phải bị móp méo, anh Huy thông báo cho H về chi phí sửa chữa xe hết 5.850.000đ, H đồng ý. Sau đó, anh Huy cho thợ sửa xe tiến hành nắp lại bazsoc, nắp ốp gương chiếu hậu bên phải và gò, sơn nắp capo, gò sơn trụ cột kính chữ A bên phải với chi phí là 1.500.000đ, các hư hỏng khác chưa tiến hành sửa chữa thì ngày 20/4/2020 cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên tiến hành thu giữ xe ô tô BKS: 30E – 714.30 để phục vụ công tác điều tra. Anh Trần Văn Huy không đề nghị H phải trả số tiền 1.500.000đ và cũng không có yêu cầu đề nghị gì đối với H .

Đối với xe ô tô nhãn hiệu Huyndai I10, màu sơn trắng, BKS: 30E – 714.30, quá trình điều tra xác định, xe ô tô trên đứng tên đăng ký sở hữu hợp pháp là công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Thành Công do anh Nguyễn Trọng Nam làm Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Chiếc xe này được mua mới năm 2017 và hiện đang được thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam chi nhánh Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Tháng 4/2020, anh Nam cho anh Nguyễn Chí Thành mượn để làm phương tiện đi lại, ngày 17/4/2020 anh Thành đã cho H mượn xe ô tô trên để về quê và gây tai nạn. Trước đó ngày 20/3/2020, Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam chi nhánh Lý Thường Kiệt đã ra quyết định thu hồi toàn bộ khoản nợ và xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ đối với xe ô tô BKS: 30E – 714.30 và ủy quyền cho ông Lê Anh Ngọc, sinh năm 1978 là chuyên viên phòng xử lý nợ sản phẩm ô tô tham gia tố tụng giải quyết vụ việc liên quan đến xe ô tô trên, Quá trình điều tra anh Ngọc yêu cầu thu hồi xe ô tô, BKSL 30E – 714.30 để xử lý khoản vay của công ty Thành Công. Tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử trả chiếc xe trên cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam để xử lý tài sản thế chấp theo quy định.

Quá trình điều tra, anh Nam đã ủy quyền cho anh Thành làm việc với cơ quan điều tra để giải quyết xe ô tô trên đồng thời đề nghị cơ quan Công an trả lại xe ô tô cho anh Thành để anh Thành trả xe ô tô cho anh Nam. Việc Ngân hàng có văn bản thu hồi xe ô tô thì anh Nam sẽ trực tiếp làm việc với Ngân hàng. Đối với thiệt hại xe ô tô do vụ tai nạn gây ra, anh Nam và anh Thành đều xác định thiệt hại nhỏ, không yêu cầu đề nghị bị cáo phải bồi thường thiệt hại, anh Thành xin tự khắc phục sữa chữa.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra gia đình bà Nguyễn Thị H gồm ông Nguyễn Đức Quang, ông Nguyễn Văn Minh, bà Nguyễn Thị Khoa, anh Nguyễn Đức Quý và anh Nguyễn Đức Kiên yêu cầu Trịnh Xuân Hphải bồi thường cho gia đình bị hại theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Xuân Htự nguyện bồi thường cho gia đình Chị Hsố tiền 160.000.000đ bao gồm 100.000.000đ tiền bồi thường tổn thất về tinh thần và 60.000.000đ tiền chi phí mai táng theo quy định. Anh Quang là người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại xác nhận trước khi mở phiên tòa gia đình bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho gia đình anh với số tiền là 100.000.000đ, đối với ý kiến tự nguyện bồi thường số tiền 160.000.000đ của bị cáo H anh đồng ý và không có ý kiến gì khác, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Chị Nguyễn T H yêu cầu Trịnh Xuân Hphải bồi thường tổng số tiền 123.380.000đ, bao gồm các khoản: Chi phí điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc từ ngày 17/4/2020 đến ngày 08/5/2020 và Bệnh viện y học cổ truyền từ ngày 16/6/2020 đến ngày 23/7/2020 là 32 triệu đồng (có hóa đơn); tiền mua thuốc điều trị là 11.380.000đ (có hóa đơn); tiền tổn thất tinh thần là 60 triệu đồng và tiền mất thu nhập từ ngày 17/4/2020 đến ngày 23/8/2020 của ông Nguyễn Đức Thủy, sinh năm 1970 ở TDP Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên (làm nghề thợ xây) là chồng của bà Hoa phải nghỉ làm chăm sóc bà Hoa 4 tháng 6 ngày là 20 triệu đồng; Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của chị T Hlà anh Thủy thay đổi quan điểm, yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 180.000.000đ và xác nhận sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử gia đình bị cáo H có đến nhà bồi thường cho gia đình anh 50.000.000đ tiền chi phí thuốc men, anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp 130.000.000 đ, bị cáo H nhất trí bồi thường.

Tại Cáo trạng số: 04/CT-VKSTPVY ngày 24/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố bị cáo Trịnh Xuân Hvề tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Xuân Hkhai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa đại diện cho bị hại vẫn giữ nguyên lời trình bày như trong quá trình điều tra không có bổ sung gì, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên lời khai như trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trịnh Xuân Htừ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị cấm hành nghề lái xe đối với Trịnh Xuân Htrong thời hạn từ 02 năm đến 03 năm kể từ ngày chấp hành xong bản án.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện gia đình nhà Chị Hvà chị T Hvề việc bồi thường với nhau về trách nhiệm dân sự, cụ thể: Đối với gia đình Chị Hthỏa thuận mức bồi thường là 160.000.000đ, đã bồi thường được 100.000.000đ, còn phải bồi thường tiếp 60.000.000đ. Đối với chị T Hmức bồi thường là 180.000.000đ, đã bồi thường được 50.000.000đ, còn phải bồi thường tiếp 130.000.000đ.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị trả lại Trịnh Xuân H01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 và 01 CMND mang tên Trịnh Xuân Hnhưng tạm giữ giấy phép lái xe để đảm bảo thi hành án; trả lại cho Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Thành Công 01 xe ô tô biển kiểm soát BKS: 30E – 714.30; tịch thu tiêu hủy 02 đôi giày nữ, 01 chiếc ốp gương chiếu hậu bên phải xe ô tô và 01 đám nhựa màu sáng không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam và anh Thành vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày và không có ý kiến tranh luận gì.

Đại diện cho bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Trịnh Xuân H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm và hậu quả do tội phạm gây ra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 21 giờ ngày 17/4/2020, Trịnh Xuân H(có giấy phép lái xe ô tô hạng B2) điều khiển xe ô tô, BKS: 30E – 714.30 chở cháu Trịnh Thị Hoa và Trịnh Bình Minh đi trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Hội Hợp hướng từ xã Vân Hội, huyện Tam Dương đi ra ngã tư Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên với tốc độ khoảng 60, 70 km/h. Khi đi qua đường tàu, do đường gồ ghề nên điện thoại di động của H bị rơi xuống sàn xe ô tô nên H cúi người dùng tay phải để mò tìm điện thoại còn tay trái vẫn điều khiển xe ô tô. Khi đi đến trước cửa số nhà 42 đường Nguyễn Thị Minh Khai thuộc TDP Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, do không chú ý quan sát phía trước, không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ tại khu vực đông dân cư nên xe ô tô đã đâm vào phía sau chị Nguyễn Thị H và chị Nguyễn T H đang đi bộ dưới lòng đường sát vỉa hè trên đường Nguyễn Thị Minh Khai cùng chiều đi với H . Hậu quả làm chị Nguyễn Thị H tử vong, chị Nguyễn T H bị thương tích 39%, xe ô tô bị hư hỏng qua định giá xác định thiệt lại là 6.000.000đ, còn H đã bỏ trốn ngay sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm trước pháp luật.

Hành vi của Trịnh Xuân Hđã vi phạm vào khoản 17 Điều 8; khoản 1 Điều 12; điểm a, b khoản 1 Điều 38 Luật giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 1, khoản 5 điều 5 Thông tư 31 ngày 22/8/2019 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới và xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ

Khoản 17 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định:

“Điều 8: Các hành vi bị nghiêm cấm:

… 17, Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm”.

Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định:

“1. Người lái xe phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường…”

Điểm a, b khoản 1 điều 38 Luật giao thông đường bộ quy định: “Trách nhiệm của cá nhân … khi xảy ra tai nạn giao thông:

a) Dừng ngay phương tiện; giữ nguyên hiện trường; cấp cứu người bị nạn….”

b) Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất”.

Khoản 1, khoản 5 điều 5 Thông tư 31 ngày 22/8/2019 quy định:

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

1. Có … chướng ngại vật trên đường;

5. Qua khu vực đông dân cư;…”

Hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) có khung hình phạt tù từ 03 đến 10 năm tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng sức khỏe của người tham gia giao thông, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo H phạm tội theo điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) có mức cao nhất của khung hình phạt đến 10 năm tù, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 trường hợp nêu trên thuộc tội phạm rất nghiêm trọng.

Bị cáo là người có trình độ văn hóa, có giấy phép lái xe theo quy định nhận thức được khi điều khiển xe ô tô phải chú ý quan sát, điều khiển xe cơ giới chạy đúng tốc độ và phải giảm tốc độ tại khu vực đông dân cư, tuy nhiên do chủ quan thiếu quan sát không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ nên đã gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm Chị Hbị chết, chị T Hbị thương, hơn nữa sau khi gây tai nạn bị cáo không dừng lại cứu giúp người bị nạn mà tiếp tục điều khiển xe ô tô bỏ chạy, đưa phương tiện đi sửa chữa nhằm xóa dấu vết, trốn tránh trách nhiệm gây khó khăn trong quá trình điều tra, gây bức xúc cho gia đình bị hại cũng như quần chúng nhân dân do đó cần xử phạt bị cáo thật nghiêm để làm gương cho người khác. Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, ngay sau sự việc xảy ra đã tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, hơn nữa trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi do đi bộ dưới lòng đường, không chú ý quan sát phương tiện tham gia giao thông, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Từ những phân tích như trên Hội đồng xét xử thấy rằng mặc dù bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào nhưng do tích chất vụ án rất nghiêm trọng, bản thân bị cáo sau khi gây tai nạn lại bỏ chạy nhằm trốn tránh trách nhiệm, không cứu giúp người bị nạn do đó cần xử phạt hình phạt tù giam, buộc bị cáo cải tạo trong trại giam một thời gian như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát mới có đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với hành vi điều khiển xe ô tô, BKS: 30E – 714.30 rời khỏi hiện trường sau khi gây tai nạn để đến gara ô tô Đức Huy sửa chữa xe nhằm xóa bỏ dấu vết tai nạn của bị cáo xét thấy: Khi H điều khiển xe không chú ý quan sát phía trước, không làm chủ tốc độ đâm vào chị Nguyễn Thị H và Nguyễn T H đi bộ dưới lòng đường bị cáo biết rõ đã gây tai nạn nhưng không dừng xe lại theo quy định, bị cáo cho rằng do hoảng sợ, suy nghĩ rằng với lực đâm mạnh như vậy hai nạn nhân đã chết, không cứu giúp được, không biết cách xử lý tình huống và sợ bị người thân của người bị hại đánh, đe dọa về sức khỏe, tính mạng. Tuy nhiên xét thấy bản thân H không bị thương tích trong vụ tai nạn, không bị ai đe dọa tới tính mạng, sức khỏe, tài sản do thời điểm buổi tối vắng người, không có sự đe dọa thực tế gì đối với bản thân bị cáo. Sau khi tai nạn xảy ra, quần chúng nhân dân thấy chị T Hvà Chị Hnằm bất động tại hiện trường nên đưa hai người đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, khi vào viện Chị Hđã ngừng tuần hoàn, tử vong. Do vậy, việc Chị Hchết ngay khi bị H điều khiển xe ô tô đâm vào không thuộc trường hợp trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng nên không đề cập xem xét xử lý đối với Trịnh Xuân Hvề tội “Không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng” quy định tại điều 132 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đồng thời có đủ cơ sở để khẳng định sau khi gây tai nạn Trịnh Xuân Hđã bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm và không cứu giúp người bị nạn vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố bị cáo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Đối với việc chị Nguyễn Thị H (vợ của bị cáo H ) ngay sau khi biết H gây tai nạn đã gọi điện thoại khuyên H ra cơ quan Công an đầu thú. Đến ngày 20/4/2020 H đã nghe lời Chị Hnên đã ra Công an phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đầu thú, do vậy cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên không đề cập xử lý đối với Chị Hlà có căn cứ.

Đối với hành vi cho bị cáo mượn xe ô tô của anh Nguyễn Chí Thành xét thấy: Trước khi giao xe ô tô cho H , anh Thành biết H đã có giấy phép lái xe ô tô theo quy định pháp luật và H hoàn toàn khỏe mạnh, tỉnh táo đủ điều kiện lái xe, việc H mượn xe ô tô sau đó gây tai nạn rồi bỏ trốn anh Thành không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của H . Do vậy cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên không đề cập xử lý là đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và đại diện gia đình nhà Chị Hvà chị T Hđã thỏa thuận bồi thường được với nhau về trách nhiệm dân sự, cụ thể: Đối với gia đình Chị Hthỏa thuận mức bồi thường là 160.000.000đ, đã bồi thường được 100.000.000đ, còn phải bồi thường tiếp 60.000.000đ. Đối với chị T Hmức bồi thường là 180.000.000đ, đã bồi thường được 50.000.000đ, còn phải bồi thường tiếp 130.000.000đ, xét thấy việc thỏa thuận này giữa bị cáo với người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại và người đại diện hợp pháp của chị T Hlà hoàn toàn tự nguyện không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Xét đề của vị đại diện viện kiểm sát là có căn cứ được hội đồng xét xử chấp nhận, cần cấm hành nghề lái xe một thời gian đối với bị cáo là phù hợp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chi phí sửa chữa xe ô tô BKS: 30E – 714.30 tại gara Đức Huy hết 1.500.000đ, anh Trần Văn Huy là chủ ga ra Đức Huy không yêu cầu nên không đặt ra xem xet giải quyết.

Đối với yêu cầu trả lại xe ô tô nhãn hiệu Huyndai I10, màu sơn trắng, BKS: 30E – 714.30 của người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam cũng như đề nghị của anh Nguyễn Chí Thành thấy rằng: Chiếc xe ô tô trên là phương tiện gây tai nạn giao thông, hiện tại đăng ký xe đứng tên Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Thành Công, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Thành Công mới là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên, hơn nữa quá trình điều tra và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Thành Công không đồng ý với ý kiến trả chiếc xe trên cho Ngân hàng, do đó cần trả lại chiếc xe trên cho Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Thành Công là phù hợp. Đối với việc Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Thành Công dùng chiếc xe làm tài sản thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam cũng như việc anh Nam là giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Thành Công cho anh Thành mượn chiếc ô tô trên để đi lại, đây là giao dịch dân sự không liên quan đến vụ án, nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, nếu Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam và anh Thành thấy quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định.

Đối với thiệt hại xe ô tô do vụ tai nạn gây ra theo kết luận định giá là 6.000.000đ, do anh Thành, anh Nam không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 và 01 CMND đều mang tên Trịnh Xuân Hlà giấy tờ tùy thân của H nên trả lại cho H nhưng cần tiếp tục tạm giữ giấy phép lái xe để đảm bảo thi hành án.

Đối với 02 đôi giày nữ, 01 chiếc ốp gương chiếu hậu bên phải xe ô tô và 01 đám nhựa màu sáng vỡ vụn thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn, hiện không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Trịnh Xuân H 05 (Năm) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 20/4/2020).

Cấm bị cáo Trịnh Xuân H hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong bản án.

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại Trịnh Xuân H01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 và 01 CMND mang tên Trịnh Xuân Hnhưng tạm giữ giấy phép lái xe để đảm bảo thi hành án; trả lại cho Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Thành Công 01 xe ô tô biển kiểm soát BKS: 30E – 714.30; tịch thu tiêu hủy 02 đôi giày nữ, 01 chiếc ốp gương chiếu hậu bên phải xe ô tô và 01 đám nhựa màu sáng (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2021).

Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 590; Điều 591, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, buộc bị cáo Trịnh Xuân Hphải bồi thường thiệt hại về tính mạng và tinh thần cho gia đình chị Nguyễn Thị H 160.000.000đ, bị cáo đã bồi thường được 100.000.000đ còn phải bồi thường tiếp số tiền 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng). Bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tinh thần cho chị Nguyễn T H 180.000.000đ, bị cáo đã bồi thường được 50.000.000đ còn phải bồi thường tiếp số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trịnh Xuân H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.750.000 đ án phí dân sự trong án hình sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ