vanban.org

Bản án 36/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 18/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2021/HS-ST
Ngày 18-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Khang

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Phương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần T V, sinh ngày 11 tháng 6 năm 1990 tại thành phố Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số 5/29/193 đường H S, phường H, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 37A/103/229 đường M, phường D, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần V T và bà Nguyễn T X; có chồng là Nguyễn T T và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 14/10/2020 đến ngày 23/10/2020 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do hoàn cảnh khó khăn V đã nảy sinh ý định mua ma túy đá về bán kiếm lời. Khoảng 20 giờ ngày 14/10/2020, V đến khu vực đường tàu Mê Linh, quận Lê Chân mua của người phụ nữ không quen biết 1.200.000 đồng ma túy đá; 800.000 đồng ma túy tổng hợp (thuốc lắc). Người phụ nữ bán ma túy nhận tiền của V rồi đưa cho V 01 hộp nhựa hình tròn, màu trắng, đường kính khoảng 5cm bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 4 x 6cm chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá; 01 túi nilon màu trắng chứa 07 viên nén hình tròn, màu nâu, một mặt in chữ “W”; 01 túi nilon màu trắng kích thước 1,5 x 2cm chứa chất bột màu hồng. Mua được ma túy, V cất giấu vào chiếc ví da màu đen cầm trên tay rồi đi về khu vực ngõ 326 Chợ Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng bán ma túy. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, có đối tượng L (bạn xã hội của V, V không biết lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá của V, V đồng ý. V lấy một ít ma túy đá giấu trong ví ra cho vào vỏ nilon của bao thuốc lá rồi bán cho L. Sau đó, V đi lang thang tìm khách để bán ma túy, khi đến đầu ngõ 80 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thì bị Công an phường Đằng Giang bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 662/KLGĐ-MT ngày 22/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu số 1 là ma tuý, có khối lượng: 3,12 gam là loại Methamphetamine; 07 viên nén của mẫu số 2 là ma túy, có khối lượng 2,38 gam, loại Ketamine và Methamphetamine; Chất bột màu hồng của mẫu số 3 là ma túy, có khối lượng 0,10 gam là loại Methamphetamine.

Kết luận giám định số 50/KLGĐ-MT ngày 24/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Khối lượng Methamphetamine có trong 2,38 gam các viên nén màu nâu của mẫu số 2 gửi giám định là 0,01 gam..

Vật chứng của vụ án: 01 bì giấy dấu niêm phong số 50MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật; 01 ví da màu đen, kích thước 10 x 20cm; 01 hộp nhựa tròn đường kính 5cm hai mặt dán tem màu hồng và 200.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Tại Bản Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 03/02/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Trần T V về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần T V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo Bản Cáo trạng mà Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Vể trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 42 đến 48 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 50MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật; 01 ví da màu đen, kích thước 10 x 20cm; 01 hộp nhựa tròn đường kính 5cm hai mặt dán tem màu hồng.

- Số tiền 200.000 đồng đã thu giữ là tiền thu lời bất chính nên nộp Ngân sách Nhà nước.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần T V bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép 3,23 gam Methamphetamine và 2,37 gam Ketamine nhằm mục đích bán kiếm lời tại khu vực đầu ngõ số 80 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Tổng tỉ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine và Ketamine so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 64,6% + 11,85% bằng 76,45% thuộc trường hợp dưới 100%. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Hành vi của Trần T V đã đủ yếu tố cầu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Trần T V về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, góp phần làm suy giảm sức khỏe của cộng đồng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Quá trình bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng bắt và tạm giam về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần thiết xử bị cáo mức án nghiêm khắc và bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.

Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo: Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Quá trình bị cáo được tại ngoại bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng bắt và tạm giam về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy nên buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về vật chứng của vụ án:

Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 50MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật; 01 ví da màu đen, kích thước 10 x 20cm; 01 hộp nhựa tròn đường kính 5cm hai mặt dán tem màu hồng; Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước 200.000 đồng là tiền thu lời bất chính.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong vụ án này, người phụ nữ bán ma túy cho bị can Trần T V; cũng như ngày 14/10/2020 bị can V bán 200.000 đồng ma túy đá cho đối tượng L tại khu vực đầu ngõ 326 chợ Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác minh được lai lịch, địa chỉ của những người này, nên không có cơ sở để xử lý

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt Trần T V 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Trừ cho bị cáo 09 ngày bị bắt tạm giữ từ ngày 14/10/2020 đến ngày 23/10/2020. Bị cáo còn phải chấp hành 47 tháng 21 ngày tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 50MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật; 01 ví da màu đen, kích thước 10 x 20cm; 01 hộp nhựa tròn đường kính 5cm hai mặt dán tem màu hồng.

+ Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng .

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Trần T V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Trần T V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ