vanban.org

Bản án 36/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Tuyên án 16/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội "Đánh bạc".

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ; được trừ 03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo T còn phải chấp hành 6 (sáu) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan được giao giám sát giáo d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội "Đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN THANH HÀ
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2021/HS-ST
Ngày: 16-7-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Ngọc Thành

2. Bà Nguyễn Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Tiêu Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2021/TLST-HS ngày 22/6/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xét số 36a/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Đỗ Văn T, sinh năm 1975; nơi sinh và cư trú: thôn S, xã A, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn N1 (đã chết) và bà Phạm Thị T1; Có vợ là Lê Thị T2 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 17/5/2021 đến ngày 19/5/2021; hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Anh Quách Đình N, sinh năm 1999; cư trú tại: Thôn 3, xã X, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Anh Phạm Khắc P, sinh năm 1967.

- Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1963;

Đều trú tại: Thôn S, xã A, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Anh Bùi Đức M, sinh năm 1970; cư trú tại: Thôn Đ, xã H, Thanh Hà, Hải Dương.

(Tại phiên tòa, những người làm chứng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Văn T thuê đất của ông Phạm Khắc P ở thôn S, xã A, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương mở quán bán bia và nước giải khát. Do muốn có thêm thu nhập, T đã đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề, số lô cho những người khác. Hình thức chơi lô, đề như sau: “Số đề” là người chơi bỏ tiền ra mua một số tự nhiên bất kỳ gồm hai chữ số, sau đó so với hai số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng vào 18 giờ 30 phút cùng ngày, nếu trùng nhau thì người chơi được nhận số tiền tương ứng theo tỷ lệ: 1000 đồng x 70 lần. “Số lô” là người chơi bỏ tiền ra mua một số tự nhiên bất kỳ gồm hai chữ số, sau đó so với 8 giải (gồm 27 lần quay) của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, khi người chơi mua số trùng với hai số cuối của 8 giải thì người chơi được nhận số tiền tương ứng theo tỷ lệ: 1 điểm lô (20.000 đồng) x 3,5 lần (số người chơi mua trùng nhiều giải được lĩnh đầy đủ theo tỷ lệ trên). Khi mua “số lô” thì người chơi phải mua thấp nhất là 1 điểm (tương ứng với 20.000 đồng). Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 17/5/2021, T đang ở quán thì có Quách Đình N, sinh năm 1999 ở thôn 3, xã X, huyện Thanh Hà và một nam thanh niên giới thiệu tên là Bùi Văn C ở khu 1, thị trấn T, huyện Thanh Hà đến uống bia. Trong lúc uống bia N hỏi mua các số lô 73, 19, 91, 99 với giá 1.000.000đồng/1 số; số đề 19, 91, 24, 65, 68, 22, 00, 53, 73, 20 với giá 50.000 đồng/1 số. T ghi các số lô, số đề của N vào một mảnh giấy đưa cho N và ghi vào một mảnh giấy để T giữ rồi nhận số tiền 4.500.000 đồng của N. Cùng lúc này C mua các số lô 42, 24, 35 với giá 200.000 đồng/1 số. T ghi các số lô của C vào một mảnh giấy đưa cho C và ghi vào một mảnh giấy để T giữ rồi nhận số tiền 600.000 đồng của C thì bị Công an huyện Thanh Hà kết hợp với Công an xã A phát hiện bắt quả tang, thu giữ: 02 mảnh giấy có ghi các số lô, số đề; 01 bút bi nhãn hiệu Smart mực viết màu xanh và số tiền 5.100.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 21/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề cho N và một người tự giới thiệu tên là C với tổng số tiền đánh bạc là 5.100.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo T 7-9 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày tạm giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan được giao giám sát giáo dục nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Khấu trừ từ 5-10% thu nhập của bị cáo T để sung quỹ Nhà nước trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Về vật chứng, áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 5.100.000đ; tịch thu cho tiêu hủy 01 bút bi nhãn hiệu Smart mực viết màu xanh

Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 40 phút ngày 17/5/2021, tại quán bán bia và nước giải khát của Đỗ Văn T ở thôn S, xã A, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Đỗ Văn T đang đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề, số lô cho Quách Đình N và một người giới thiệu tên Bùi Văn C với số tiền 5.100.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; ngoài ra bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, Hội đồng xét xử thấy bị cáo đánh bạc với số tiền ít, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên có thể cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Công an đã thu giữ và lưu giữ tại hồ sơ vụ án các mảnh giấy có ghi số lô, số đề là phù hợp với quy định pháp luật. Do vậy không đặt ra vấn đề xem xét tịch thu hay tiêu hủy đối với vật chứng này.

Đối với 01 bút bi nhãn hiệu Smart mực viết màu xanh, xét đây là công cụ phạm tội nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Số tiền 5.100.000đ là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Anh Quách Đình N mua số đề, số lô với số tiền 4.500.000 đồng, Công an huyện Thanh Hà đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 100 ngày 24/5/2021 về hành vi đánh bạc là phù hợp. Đối với người giới thiệu tên là Bùi Văn C mua số lô của Đỗ Văn T, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau. Ông Phạm Khắc P không biết Đỗ Văn T bán số đề, số lô nên không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi đánh bạc của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội "Đánh bạc".

2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ; được trừ 03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo T còn phải chấp hành 6 (sáu) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan được giao giám sát giáo dục nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Khấu trừ 10% thu nhập của bị cáo T để sung quỹ Nhà nước trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.

3. Về vật chứng:

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 5.100.000đ. Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi nhãn hiệu Smart mực viết màu xanh.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).

4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ