- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trịnh Công Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2021/HS-ST Ngày 01/4/2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Ông Hồ Diên Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mong Thái Dương.
2. Ông Lang Văn Hải.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lang Thanh Như - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên Tòa: Ông Lương Hoài Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số:19/2021/TLST-HS, ngày 03 tháng 3 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Trịnh Công Nh, tên gọi khác: Không, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Xóm Ph, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trịnh Xuân Th; Con bà: Hoàng Thị V (Đã chết); Anh chị em ruột có 06 người bị cáo con thứ 5 trong gia đình; Vợ: Phí Thị Kim Ng; Con: Có 02 người; lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2020. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 00 phút, ngày 17/12/2020, Trịnh Công Nh đi xe ôm từ nhà lên khu vực Cầu treo thuộc thị trấn Kim Sơn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, với mục đích tìm mua ma túy. Khi lên đến nơi Trịnh Công Nh gặp một nam thanh niên không quen biết hỏi Nh có mua ma túy không? Thì Nh đồng ý và lấy 250.000 đồng mua ma túy với nam thanh niên đó, được 01 gói ma túy được bọc bằng mảnh bao ni lông màu vàng. Sau khi mua được ma túy Nh bắt xe ôm về khu vực ngã ba Truông Bành thuộc Bản Đan, xã Tiền Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày Trịnh Công Nh bị tổ công tác Công an xã Tiền Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang thu giữ của Trịnh Công Nh 01 gói chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine.
Bản kết luận giám định số: 33/KL-PC09 (DD2-MT), ngày 21/12/2020 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Trịnh Công Nh gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Mẫu chất bột màu trắng ghi thu của Trịnh Công Nh gửi tới giám định có khối lượng là 0,8 (Không phẩy tám) gam”.
Tại phiên Tòa bị cáo Trịnh Công Nh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 17/12/2020 tại khu vực ngã ba Truông Bành thuộc Bản Đan, xã Tiền Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An Trịnh Công Nh đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,8 (Không phẩy tám) gam ma túy (Heroine) thì bị tổ công tác Công an xã Tiền Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang thu giữ của Trịnh Công Nh 01 gói ma túy (Heroine) có khối lượng là 0,8 (Không phẩy tám) gam.
Cáo trạng số: 27/CT-VKS-HS, ngày 01/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trịnh Công Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo Trịnh Công Nh do không xác minh được lý lịch và địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Công Nh từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng: Áp dụng vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Hành vi của bị cáo Trịnh Công Nh cất dấu trái phép chất ma túy đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo vừa trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy, cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo khai báo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, vì vậy cần xem xét để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Công Nh từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là chưa phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá, trước khi bị bắt gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,8 gam Heroine Cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất ma túy 0,1 gam Heroine, còn lại 0,7 gam Heroine. Đây là chất ma túy Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Trịnh Công Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Trịnh Công Nh 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/12/2020.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bưu điện, bên trong đựng 0,7 gam Heroine, mảnh bao ni lông màu vàng và vỏ bao bì niêm phong vật chứng ban đầu của Trịnh Công Nh.
Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Quế Phong và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong ngày 22/3/2021.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và Diều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thượng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quyền kháng cáo: Trong 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Quế Phong; - Công an huyện Quế Phong; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trại giam Công an tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Quế Phong; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hồ Diên Tuấn |